Lúc còn sống bị tù đày khốn khổ Khi chết đi thân vùi hố bên đường Da thịt tan vào đất lạnh thấm sương Nhưng xương trắng dường như còn chờ đợi Thơ MINH VŨ
Hai anh là những sĩ quan phi công của Không Lực VNCH, Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé, sau ngày 30/04/1975 đen tối của miền nam VN. Cũng như những đồng đội bám trụ chiến đấu cho đến giây phút cuối cùng để rồi trở thành những người lính thua trận. Những tù hàng binh của chế độ bị bức tử phải biến thân thành những kẽ tội đồ trong trại tù khổ sai mà chế độ mới, xã hội chủ nghĩa ưu việt lúc bấy giờ khoác lên cho nó một cái tên hết sức mỹ miều và vô cùng nhân đạo: “Trường Quản Huấn” rồi sao đó là “Trường Cải Tạo”. Tất cả họ là những người tù không bản án, bước đầu họ bị tập trung vào những trường học hoặc những khu doanh trại của quân đội với lời kêu gọi quyến dụ, có một chút đe dọa của chính quyền mới, loa phóng thanh ra rã suốt những ngày sau đó: -“Tất cả nguỵ quân nguỵ quyền phải trình diện với chính quyền cách mạng để được học tâp chính sách khoan hồng của chính phủ trong 10 ngày”_đây là phương sách đầu tiên của chính quyền cộng sản muốn gom tất cả Quân,Cán,Chính miền Nam trước khi đưa họ lên rừng sâu để đày đọa. Mục đích của kế sách này là muốn cô lập và bóp chết những mầm móng ly khai, chống đối lại bọn chúng từ trong trứng nước và sẽ không còn điều kiện nhoen nhốm để bùng lên. (Chử “Họ” mà người viết dùng ở đây để chỉ những Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ‘SQ/QLVNCH’ từ Thiếu Úy trở lên, tác giả là một trong đám họ) Cũng vì lo lắng cho số phận mình và rối rắm trong sự tức tưởi ‘không đánh mà thua’ nên đã quên lãng đi lời dặn dò của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đối với cộng sản: -“Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn vào những việc cộng sản làm”. Đây là cú lừa đầu tiên mà Quân, Cán, Chính miền Nam bị gạt để đưa cổ vào tròng. Sự thật thì không phải là tất cả họ đều đã tin lời Cộng sản nói, nhưng cái thế ‘tấn thối lưỡng nan’ có một chút tiêu cực cầu an và nặng gánh gia đình, những mong yên phận để trở về với cha, mẹ, vợ con làm ăn sinh sống. Chỉ có một số rất ít còn sáng suốt, có kinh nghiệm về Cộng Sản, không tin Cộng Sản- Họ chấp nhận cuộc sống ngoài vòng pháp luật ngỏ hầu tìm phương phục quốc, nhưng hầu hết số người này họ cũng nhận lấy những kết quả bi thảm đau thương.
Tập trung lần đầu 10 ngày để học chính sách
Cú lừa thứ hai tiếp theo đó không lâu sau những ngày học tập chính sách tuyên truyền vớ vẩn, bằng cách chửi mắng hù dọa và tiếp theo với một thông báo như sau: -“Đối với nguỵ quyền từ trưởng cuộc cảnh sát, xã trưởng trở lên và nguỵ quân từ Thiếu Úy trở lên phải tự túc 1 tháng cơm gạo và đồ dùng cá nhân để đi học tâp chính trị và lao động công ích”. Thế là xem như sụp bẫy, từ đó câu văn “Một tháng học tập” trong tự điển Việt Nam được định nghĩa lại là “học tập ‘tốt’ thì về”, và có thể kéo dài đến 20 năm nếu đươc cho là chưa tốt, thật là nham hiễm, gian manh. Điều này cũng là cái mưu mô chúng muốn tạo cái cảnh nồi da xáo thịt đồng đội tương tàn, kích động cho những kẽ tôn thờ chủ nghĩa cá nhâ-thóc mách, tố cáo lẫn nhau lập thành tích để được đánh giá là cải tạo tốt sẽ sớm về sum họp với gia đình. Quả nhiên trong hàng trăm ngàn người thì làm sao tránh khỏi có người mê muội bán rẽ lương tâm cố tìm sự sung sướng riêng cho bản thân mình trên sự đau khổ của đồng đội, điển hình như câu chuyện Đại Úy Bùi Đình Thi mà Linh mục Nguyễn Hữu Lễ viết thành sách được khui ra trên đất nước Hoa Kỳ. Thế nhưng lúc nào bọn chúng cũng oang oang mà tuyên truyền với thế giới bên ngoài là số tù hàng binh chế độ củ được đối xử tử tế bằng “Chính sách khoan hồng nhân đạo”. Gớm ghiếc thay! một trò bịp bợm láo khoét, một sự tráo trở gian manh, họ cố tình che đậy những việc làm bỉ ổi vô nhân để kêu gọi sự viện trợ nhân đạo của thế giới bên ngoài. Đoàn xe Molotova vận tải chuyển họ đi trong đêm như một đàn súc vật, họ bị đưa đến giữa khu rừng già nơi những mật khu cũ của quân Cộng Sản Bắc Việt đóng quân trước năm 1975. Đến nơi họ nhìn chung quanh chỉ thấy toàn là rừng già, họ cũng không biết đây là nơi nào, họ đang ở đâu và họ sẽ làm gì. Đoàn người lũ lượt xuống xe với đồ ngũ và đồ dùng cá nhân, dụng cụ nấu ăn cho từng nhóm nhỏ và một ít dụng cụ đi rừng, làm rẫy như dao, búa, rựa, liềm mà mỗi người phải tự đem theo một món theo lệnh của tên cán bộ Quân Quản-nơi đây là điểm bắt đầu cho một kiếp tù đày của họ. Trại tù này đang giam giữ những người có cấp bậc từ Thiếu Úy, người trẻ nhất vào khoảng 22 tuổi và cao nhất là Trung Tá, có người xấp xỉ bước vào cái tuổi “ngũ thập niên”, hơn 2/3 trong số họ ở vào khoảng 25 đến 35 tuổi đời. Bọn chúng đã lập sẳn những danh sách theo cấp bậc cũ thành 1 tổ khoảng 20 người, ‘C’ (cấp đại đội) gồm 3 đến 4 tổ và ‘D’ (cấp tiểu đoàn) gồm 2 đến 3 ‘C’ - khu vực, tổ chức đội ngũ được thành hình ngay sau khi đến nơi khoảng 1 giờ. Sau khi đã sắp xếp vị trí và khu vực ăn ở, từng tổ tự lo một bửa cơm lót dạ xong là họ phải bắt tay vào việc cất một cái nhà chòi gọi là láng tạm để đụt mưa tránh nắng và ngũ ban đêm bằng tranh, tre, nứa, lá tại chổ. Để ngăn ngừa sự trốn thoát chúng còn đe dọa là không được rời khỏi khu vực qui định khi chưa có lệnh của Đoàn Bộ (danh từ ám chỉ Ban Quản Huấn cao nhất) nếu vi phạm thì sẽ không được bảo toàn tánh mạng. Hoàn thành một túp lều đủ cho 20 người che nắng che sương bằng những vật liệu mà tự họ phải khai thác bằng cách tự phân công mỗi người một tay. Kẻ đốn cây làm cột, người chặt tre làm kèo và cắt tranh bện thành tấm lợp, những sản phẫm này sẽ kết cấu vào thành một căn chòi bởi những sợi dây rừng hay lóc vỏ dây mây làm sợi, ngoài ra không có bất cứ cây đinh ,sợi kẽm nào. Xong rồi, họ đứng nhìn nhau, nhìn căn chòi rồi mỉm cười cay đắng. Mồ hôi nhuể nhại trên mặt mũi cùng với tay chân đầy những vết trầy rướm máu, có lẽ họ cũng đang cùng thầm nghĩ: “tại sao chúng mình lại ngu xuẩn thế này!”, nhưng đã muộn rồi, tất cả đã đi vào cái quĩ đạo “một đám người tù khổ sai và bọn cai tù khát máu, khó mà thoát khỏi cái vòng cương toả này”. Họ tìm chút khuây khỏa bên nhau, tán gẩu bằng những điếu thuốc rê được quấn một cách lượm thượm, hay chuyền tay nhau chiếc điếu cày để rít những bi thuốc lào cho tâm hồn ngây ngất, quên đời. (Bi: là những sợi thuốc lào vò lại thành viên bằng ngón tay út để lên nỏ của điếu cày bằng ống tre có chứa nước, châm lữa để rít, có tiếng kêu re…r…ee…e…..e… của nước nghe êm tai và rất thú vị -các cụ ông miền Bắc thường hút bằng điếu bát sành. Có chàng SQ/QLVNCH nào mà biết quấn thuốc rê đâu! họ nhìn nhau lúc quấn thuốc rê rồi tự mỉm cười mai mỉa) Họ không biết họ đang ở nơi nào, cha mẹ, vợ con, anh em hay người tình của họ bây giờ như thế nào và cuộc sống ra sao! Họ đang phải làm gì và họ sẽ phải làm gì? Người tù trẻ, dáng dấp to lớn, phong độ- là một phi công A 37, Nguyễn Văn Lộc, anh đang nghĩ đến người vợ yêu thương của anh-Chị là Hoa Khôi của trường Nữ Trung Học Nguyễn Bá Tòng năm xưa, Nguyễn Thị Ngọc Di, chị đang mang thai đứa con đầu cũng gần đến ngày khai hoa nở nhụy, đầu óc anh rối bù và tâm hồn anh thờ thẩn trong đôi mắt đăm chiêu đang hướng vế một nơi xa xăm nào đó, cái nơi mà cũng có một người luôn luôn lo nghĩ về anh. Những ngày khốc liệt sau cùng của thủ đô Sài Gòn, anh đã nhờ các đồng đội giúp di tãn Ngọc Di đến đảo Guam ngày 28/04/75, còn anh thì ở lại tiếp tục chiến đấu cho đến giờ phút sau cùng rồi kẹt lại. Giờ đây anh ngồi trầm ngâm suy tư và nghĩ ngợi đến người vợ và đứa con sắp sửa chào đời, anh lúc nào cũng bồn chồn lo lắng, nàng có được an toàn đến nơi chốn bình yên không! Ôi! Trăm ngàn nỗi âu lo và chờ đợi. Những đồng đội của Lộc đến đảo Guam cùng lúc với Ngọc Di sau này đã kễ lại rằng: Chị Ngọc Di đã đến được đảo Guam an toàn, sau đó, bất cứ chuyến bay nào từ Việt Nam đến đảo Guam-Ngọc Di điều hớt hãi với bụng mang gần ngày sanh nở tìm kiếm những người bạn thân quen với chồng, gặp được người nào chị dồn dập hỏi: -Anh Lộc đâu, anh Lộc đâu? Anh có đến không, các anh có biết anh Lộc thế nào không? Nhưng vô vọng, mòn mõi cho đến khi không còn chuyến bay nào từ Việt Nam đến nữa, Lộc của Ngọc Di cũng không đến và vĩnh viễn không đến. Có người bạn học cùng lớp với Ngọc Di khi còn ở lớp 12 và cũng là cây si Ngọc Di thời đó, anh đang sống ở thanh phố Berkeley, California- khi tìm được số phone, anh gọi để hỏi Ngọc Di về Lộc. Bên kia đầu dây Ngọc Di trả lời cho người bạn bằng tiếng Anh: -Never…never coming again! Lúc này Ngọc Di đã biết được tin tức của người chồng thân yêu đã bị sát hại một cách thê thảm.
Những tù nhân cải tạo trường Quản Huấn Cây Cầy “A” Tây Ninh
Đêm đến những người tù này đâu thể nào an giấc được với những suy tư, toan tính tìm đường vượt thoát, nhưng trăm ngàn khó khăn hiện ra trước mắt, làm thế nào để thoát đây? Mục tiêu đến là đâu? Viễn ảnh trước mắt, vượt trại đồng nghĩa với sự chết và vô vọng. Nhưng rồi vẫn có người phải cố tìm phương cách ra đi để tránh sự nhục nhã đau thương từ thể xác đến tinh thần, dù biết rằng ra đi là chết nhưng vẫn còn hơn môt kiếp sống đọa đày. Đôi bạn cánh thép Nguyễn văn Lộc và Lê văn Bé, hai anh đã đồng tâm quyết định ra đi để tìm con đường sống và để được làm người trong cái lối thoát âm u, xác xuất sống còn quá bấp bênh nhưng hai anh đã quyết định và chỉ mong thoát khỏi cái địa ngục trần gian này rồi sao sẽ ra sao cũng được. Nghiệt ngã thay! Hai anh đã trả cái giá quá đắt cho quyết định này. Số phận thật là đen tối như bầu trời đêm không trăng sao, hai anh đã sa vào tay giặc và gục ngã trước họng súng oan nghiệt của bè lũ vô nhân, không có một chút tình người. Hai anh đã nằm xuống tại nơi đó, thân xác được vùi lắp vội vã bên bìa rừng bởi những đồng đội, đồng tù của các anh, không chiếu chăn gói xác, không một nén nhang để nguyện cầu cho kẻ xấu số_thật thê thảm cho một kiếp tù đày! Cái chết của Lộc & Bé được những người bạn đồng tù kể lại sau này, hai anh rất oai hùng, anh dũng và không khuất phục. Hai anh đã vượt thóat khỏi nơi giam giử với 2 quả lựu đạn mini và sẳn sàng chiến đấu nếu bị truy bắt, bọn cai tù vẫn tiếp tục truy đuổi hai anh và trước khi bị bắn chết hai anh đã hiên ngang ném 2 quả lựu đạn về phía bọn chúng gây thương vong mấy tên trước khi ngã quỵ, hai anh thừa biết là để bọn chúng bắt lại thì bọn chúng cũng tử hình hoặc là sống cũng không được, mà chết cũng không xong. Oanh liệt thay! người chiến sĩ QLVNCH! Dù đã chết rồi, bọn chúng nào có buông tha. Chúng đã lôi xác hai anh về phơi giữa trại để thị uy cho những người còn lại. Đó là ngày 26/03/1976 bầu Trời tang tóc, lúc này con gái của Anh Lộc và Chị Ngọc Di cũng mới chào đời mới vài tháng tuổi, cô nhi Nguyễn Lộc Đan Vi thật là tội nghiệp! Bé đâu biết sau khi nó mở mắt chào đời không lâu thì người cha thân yêu của bé đã không còn trên thế gian này nữa. Vô cùng thương tiếc! rồi thân xác hai anh đã được các bạn đồng đội, đồng tù lén lút đem chôn vội vã bên bìa rừng Long Khánh, cố làm dấu vết để sau này có dịp báo với gia đình những kẻ xấu số. Những đồng đội, đồng tù của hai anh cũng nhờ vào những chi tiết dấu vết nhỏ nhoi đó phăng ra mà đào tìm hài cốt hai anh để có kết quả trọn vẹn.
Lễ truy điệu đôi cánh thép Lộc & Bé
Trong ngày lễ truy điệu, nhìn hình ảnh người hiền phụ Ngọc Di với chiếc áo dài tang đen viền cổ trắng,thắt nút vải và vành khăn tang trắng chít trên đầu đã che đi một phần mái tóc đã điễm sương bỡi hơn ba mươi năm trời dãi dầu nơi xứ người với kiếp sống ly hương để làm thân ‘cái cò’ cô độc nuôi con. Một chữ ‘LỘC’ to tướng khoảng 8 phân Anh đường kính được thêu bằng chỉ trắng trên ngực trái của chiếc áo tang đen, đủ cho chúng ta hiểu được rằng dù đã ba mươi ba năm trôi qua, biết chắc người chồng không còn nữa, Ngọc Di vẫn bền lòng chặt dạ thờ chồng nuôi con cho đến ngày hôm nay – Cô nhi Nguyễn Lộc Đan Vi đã tròn 33 tuổi, thật là một tấm gương xán lạng cho người phụ nữ Đông Phương, ‘Ngọc Di hiền Phụ’ Hiếm thấy! Hiếm thấy!
Ba mươi năm người vợ hiền tìm tới Hốt xương khô về ấp ủ phương xa Nơi bầu Trời hun hút rộng bao la Tự do thở như Anh hằng mơ ước Thơ Minh Vũ
Thân xác hai anh đã nằm sâu dưới lòng đất lạnh hơn ba mươi năm dài không một nén nhang cho ấm áp những oan hồn và cũng không mộ bia ghi dấu tích. Cho mãi đến hôm nay những mảnh xương tàn vụn của hai anh được Chị Ngọc Di-Hiền Phụ của cố Tr/U Nguyễn văn Lộc phối hợp với những đồng đội, đồng tù trong cánh thép của anh phải mất một thời gian khá dài và vô cùng gian khổ để đào tìm hài cốt hai anh đem về vùng trời tự do mà nhang khói cho hương linh hai anh được ấm áp nơi cỏi vĩnh hằng, thật là vạn hạnh! Ngọc Di nở một nụ cười mãn nguyện trong hai hàng nước mắt tuôn trào. Nói đến nàng cô phụ Ngọc Di, sau khi biết được tin người chồng thân yêu không còn nữa thì nàng đã quyết tâm nuôi mộng bằng mọi giá để tìm lại hài cốt người chồng thân yêu đem về vùng đất tự do nơi anh đã từng đến để trở thành người Phi Công của Không Lực VNCH. Ngọc Di đã tháp tùng với phái đoàn Hoa Kỳ lần đầu tiên sang Việt Nam truy tìm hài cốt của quân nhân Hoa Kỳ bị mất tích ngõ hầu tìm phương bốc cốt người chồng. Mãi cho đến tháng 10/2008 mộng ước của người góa phụ cô đơn Ngọc Di mới thành sự thật. Anh Lộc đã trở về yên nghĩ bên người vợ thân yêu và đứa con gái Đan Vi chưa từng biết mặt Bố, đang chờ đợi anh từng ngày dù biết đó chỉ còn là những mảnh xương tàn vụn. Thêm nữa một phần thân xác của người đồng đội chí cốt, Lê Văn Bé đồng cảnh ngộ và đồng tử với anh cùng được nằm bên cạnh, họ tuy không sanh cùng ngày, giờ, năm, tháng-nhưng họ đã chết cùng giờ, cùng ngày, cùng tháng, cùng năm, họ được nằm cạnh nhau như một đôi anh hùng tri kỷ (Trung Úy Lê Văn Bé cho đến 30/04/75 vẫn còn độc thân).
Lễ phủ kỳ cho cố Tr/U Nguyễn Văn Lộc tại Hoa Kỳ (T10/2008)
Hy vọng đó hôm nay anh có được Đời thanh bình hết chinh chiến khổ đau Anh trở về nối lại thuở hôm nào Bên người vợ bao năm trời xa cách Thơ Minh Vũ
“Túy ngọa sa trường quân mạt tiếu, Cỗ lai chinh chiến kỹ nhân hồi” người lính trận xưa nay xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, ước vọng trở về mái nhà xưa bên mái ấm gia đình với vợ đẹp con xinh chỉ là những hy vọng mong manh như bao nhiêu người lính khác. Bây giờ anh Lộc vừa đạt được điều mơ ước đó! Vĩnh viễn anh sẽ không rời xa người vợ ngoan hiền và đứa con gái xinh đẹp của anh nữa và vĩnh viễn anh được gần kề bên họ, cũng sẽ không có một trở lực nào ngăn cách nổi họ đâu.
Vành khăn tang ôm nổi sầu cô quạnh Mừng chồng về hạnh ngộ chạnh lòng đau Bao năm qua anh bay bổng nơi nào Cánh chim sắt phi bào ngày xưa ấy Thơ Minh Vũ
Đoàn cánh thép với huy hiệu Tổ Quốc Không Gian cùng với gia đình Ngọc Di Hiền Phụ đã tổ chức buổi lễ phủ kỳ VNCH, truy điệu và vinh danh hai anh vô cùng trọng thể trong bầu không khí thật là xúc động, bên hình ảnh Ngọc Di chít trên đầu “Vành khăn tang cô phụ”. Trong suốt cuộc chiến Việt Nam, hình ảnh người cô phụ đi nhận xác chồng, nàng góa phụ ngây thơ gục đầu nức nở bên chiếc quan tài được phủ bởi lá cờ vàng ba sọc đỏ là những hình ảnh dể gây xúc động nhất cho mọi người. Bản thân tôi (người viết) đã chứng kiến tận mắt rất nhiều lần những cảnh tượng bi thương não nùng của người cô phụ khóc chồng. Những góa phụ quá ngây thơ bụng mang dạ chữa đứa con đầu đời cầm tấm thẻ bài đi nhận xác người chồng yêu thương, nức nở khóc than khi cầm đến những kỹ vật của anh còn để lại. Thế mà qua hình ảnh cô nữ sinh lớp 12A1 của trường nữ trung học Nguyễn Bá Tòng, NGỌC DI ba mươi sáu năm về trước với vành khăn tang trắng trên đầu và cô nhi ĐAN VI, càng làm cho nhiều người xúc động hơn, họ đang làm lễ truy điệu cho chồng và cha của họ. Không biết Ngọc Di và Đan Vi, họ có còn giọt nước mắt nào để khóc cho người anh hùng bạc số Nguyễn Văn Lộc này hay chăng! Nhưng chính tôi đã đôi lần rơi nước mắt. Cãm động quá! Ôi! Một chuyện tình, sau cuộc chiến lẽ ra họ nên được đoàn tụ bên nhau và hạnh phúc, chứ sao lại phải chia lìa tang tóc đau thương như thế này-Thật là nghịch lý đối với những việc làm của đảng Cộng Sản Việt Nam.
Lễ cải táng hai anh Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé
Anh trở lại, vợ con thơ nào thấy Chỉ nắm xương dưới đáy quan tài buồn Quốc kỳ vàng ba sọc đỏ phủ buông Rưng ngấn lệ khóc buồn người tao ngộ Thơ Minh Vũ
Hơn ba mươi năm chờ đợi héo hon, giờ tao ngộ có ai ngăn được dòng nước mắt trước cảnh đau thương này! ‘Nổi chờ đợi thời gian ôi! rét quá!-Phố không cây buồn biết bao chừng’. Họ tao ngộ với chồng và cha của họ không bằng xương bằng thịt để họ nói lên hết cái nổi mong chờ thương nhớ hơn ba mươi năm qua, ngược lại chỉ là một nắm xương khô lạnh buốt nằm trong đất lạnh hơn ba mươi năm dài không quan tài ấp ủ.
Vong linh hởi! người phi công bạc số Hãy nghĩ yên nơi mảnh đất xa quê Cánh chim trời vẫn giữ ven ước thề Vượt ngàn dậm đã bay về tổ ấm Thơ Minh Vũ
Những vần thơ trên đây là nguyên tác một bài thơ với đề tựa là “Quê Hương Nào Để Anh Gửi Nắm Xương Tàn” của nhà thơ Minh Vũ. Tôi đọc được bài thơ này, cố truy tìm những dữ kiện về cuộc hành trình “Bốc Cốt” này của nàng cô phụ Ngọc Di với những đồng đội, đồng tù của chồng và buỗi lễ truy điệu cho hai anh LỘC & BÉ vô cùng long trọng. Thán phục! Thán phục! Xin mạo muội trích dẫn bài thơ cùng một vài hình ảnh liên quan với mấy dòng thô thiển để chia xẻ cùng quí chiến hửu trong QLVNCH, những người bạn đồng tù Cây Cầy A&B, Đồng Ban, Suối Nước Trong và Bàu cỏ Tây ninh, những đồng môn Đồng Đế Nha Trang nói chung và các cựu SVSQ khóa 10B/72 nói riêng cùng thưởng lãm. Xin nghiêng mình trước vong linh hai anh Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé và tặng riêng cho nàng Hoa Khôi 12A1, Ngọc Di của Nguyễn Bá Tòng năm xưa bốn chữ: “NỮ TRUNG TIẾT LIỆT” của đầu thế kỹ thứ 21.
Cô phụ Ngọc Di nhận lá Cờ Vàng đã phủ trên áo quan chồng
Như thường lệ hằng năm, Ban Chấp Hành Khóa 10B/72 SVSQ Đồng Đế Nha Trang sẽ tổ chức “Buổi Tất Niên Hôi Ngộ 2008”. Thân mời tất cả anh em khóa 10B/72 cùng gia quyến và bạn bè thân hữu đến tham dự buổi họp mặt tất niên của khóa 10B/72 được tổ chức tại:
Địa Chỉ: Nhà Hàng China Feast 12100 Beach Boulevard Stanton, CA 90860 Tel.: (714) 898-8933 Ngày Giờ: Chúa Nhật Ngày 28 Tháng 12 Năm 2008, Lúc 5:30 pm
Xin quí vị và các bạn cố thu xếp thời gian về tham dự buổi họp mặt hàng năm. Sự có mặt của quí vị và các bạn là niềm khích lệ dành anh em khóa 10B/72 và ban tổ chức.
Xin liên lạc qua 2 số điện thoai sau đây:
Hội Trưởng: Nguyễn Công Vinh (714)837-2602 vincent9620@yahoo.com Hội Phó: Trần Anh Tuấn (714)468-9226 Email:anthonytran53@yahoo.com
Kính tặng toàn thể cựu SVSQ 10B/72 ĐĐ nhân ngày Đại hội Tất Niên 2008 và riêng tặng Thiếu Úy Tần Nam, cựu SVSQ K10B/72 Đồng Đế (103F/TTB)
Bến Đình có đôi thiên nga Mỹ Hiền là chị, em là Mỹ Tiên Em sắc sảo, chị dịu hiền Hường nhan nhi nữ thuyền quyên bọt bèo.
Hai nàng là đôi cô nhi của một gia đình tử sĩ Quân Lực Việt Nam cộng Hòa (QLVNCH) Cha là cố Thượng Sĩ Nhất tiểu đoàn 50 Pháo Binh thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh chết trận Bình Giã năm 1964 khi nàng út mới lên 10. Người quả phụ lúc bấy giờ ở vào độ tuổi ngoài 40 với hai cô con gái vừa bước qua cái tuổi trăng tròn. Người cô phụ trông có vẻ hiền hòa cùng với cái nét chất phát của người phụ nữ miền Nam, Bà có đôi mắt to đen láy, long lanh và dường như lúc nào cũng có những giọt nước trong đôi mắt đó với cái nỗi buồn sâu thẳm. Cô con gái lớn, Mỹ Hiền đã đi làm giúp mẹ nuôi em, còn cô gái út-Mỹ Tiên đang học lớp 12 trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt Gia Định. Ba mẹ con đùm bọc và nương tựa nhau trong căn phố nhỏ trên đường xuống Bến Đình bên hông kho đạn Gò Vấp với phương tiện sinh sống đơn giản không bon chen là cái quán nhỏ bên đường với cái tủ bán thuốc lá trước hiên nhà mà khách thường là những quân nhân ngành Quân cụ, đôi khi cũng có một vài Sĩ Quan trẻ quá bộ đến quán. Người góa phụ cô đơn lầm lủi với cuộc sống đơn điệu, bần hàn có phần cơ cực mà Bà đã chấp nhận miễn cưỡng trong gần mười năm qua, với ước mộng nuôi hai con khôn lớn nên người cho tròn phận sự với người chồng đã khuất. Nhìn trong đôi mắt cả một nỗi niềm tâm sự tự đáy tâm hồn của Bà hiện lên sự bạc mệnh của cái thuyết “Hồng nhan đa truân” mà Bà chính là người bị chiếu mệnh. Những điều tôi biết được về hoàn cảnh, cuộc sống của Bà cùng 2 cô con gái là từ những lời tâm sự với tôi ở cái lần đầu tiên tôi đến quán giải khát, tôi được hân hạnh Bà mời lại dùng bữa cơm tối đạm bạc với gia đình. Tôi và một người bạn nữa rất xúc động trước tấm chân tình này, rồi từ hôm đó hai đứa tôi nghiễm nhiên trở thành những người thân thích. Chúng tôi đến quán bất cứ lúc nào rảnh rỗi và mỗi đêm trong suốt thời gian ứng chiến ở bến Đình, chúng tôi phụ với Bà những công việc lặt vặt mà đối với phái nữ có phần khó khăn những lúc không có mặt 2 cô con gái ở nhà. Sau khi quán đóng cửa, chúng tôi phụ dọn dẹp linh tinh cho Bà sau đó đánh đàn, ca hát cùng với 2 cô con gái cho đến giờ giới nghiêm mới chịu rời khỏi nhà Bà trở về nơi đóng quân. Bắc, bạn tôi-nó chơi Guitar khá thành thạo và hát cũng hay nên 2 cô rất thích khi chúng tôi ở lại chơi đàn.
Thường xuyên thì người mẹ quán xuyến mọi việc buôn bán lúc ban ngày, quán rất vắng vẻ và có rất ít người qua lại. Nhưng lại trở nên khá nhộn nhịp khi hoàng hôn buông xuống cho đến giờ giới nghiêm bởi vì lúc đó việc buôn bán có thêm sự phụ giúp Mỹ Hiền, cô con gái lớn-mà hầu hết khách là những người lính, cô út, Mỹ Tiên-ít xuất hiện ngoài quán vì lẽ cô ấy bận việc học để chuẩn bị cho kỳ thi tú tài vào mùa Hè năm đó.
Trong tuần lễ Tết này quán trở nên náo nhiệt hơn vì có đại đội Khóa sinh dự bị Sĩ Quan (KS/DBSQ) từ Trung tâm huấn luyện Quang Trung (TTHLQT) đến đóng quân ứng chiến trên bờ rạch bến Đình cách quán vào khoảng 200 mét. Đó là đại đội 103F, tiễu đoàn Trương Tấn Bửu, Liên đoàn B thuộc khóa 10B/72 Sĩ Quan Trừ Bị (SQTB). Lê Tấn Bắc, người bạn cùng trung đội, hắn phát hiện ra cái quán có cô nàng xinh đẹp này ngay chiều hôm đó. Bắc nói với tôi lúc chúng tôi sửa soạn lều ngũ: -Ê! Đông! Lát nữa tao mày ra quán nước gần đây có con bé xinh lắm! Tôi vừa lo công việc của mình vừa hỏi lại hắn: -Sao mày biết có con bé xinh đẹp, chắc chắn không? Bắc nhanh nhẹn đáp lời tôi: -Chắc chắn mà! Tao mới đến đó mua bao thuốc lá về đây, con bé dể thương lắm! tao nhìn nó nheo nheo con mắt, nó nheo mài đá lại với tao dể chết lắm Đông ơi! Đi nha! Tôi ngừng tay quay lại phía Bắc rồi cười nói: -Mày quả thật là tài, nơi nào có bóng hồng là mày phát hiện ngay, giống như mấy con dê nghe mùi bông sua đủa vậy, tao phục mày sát đất luôn. Bắc trừng mắt lên nhìn tôi rồi phản bác: -Không đi thì thôi còn nói là dê này dê nọ! Tao sẽ đi một mình đừng chạy theo nha! Cũng sợ Bắc giận nên tôi vã lã: -Đi thì đi chứ! Tao khen mày là người tài chứ mắng mỏ gì đâu mà tự ái thế kia ông Thần! Lúc nào thì đi? Bắc đáp nhanh gọn: -Xong lều ngũ tắm rữa rồi đi. Tôi cũng đáp lại: -Đồng ý luôn. Chúng tôi thu gọn những thứ lỉnh kỉnh vào lều vải của mỗi đứa rồi luân phiên nhau đi tắm, hai đứa đều lên 2 bộ đồ ủi hồ láng cón trông rất phong độ của một người lính rồi cùng sánh vai nhau đến quán. Bắc và tôi đến quán khi màn đêm bắt đầu buông xuống, lúc này quán đang vắng khách thấy chúng tôi bước vào người đàn bà và cô gái cùng ngẩn đầu lên nhìn về phía chúng tôi cùng nhoẻn miệng cười, cô gái dòn dã chào mời: -Mời 2 anh ngồi-các anh dùng chi? Có phải các anh vừa đến đóng quân ở bến Đình trưa nay phải không? Có các anh về đóng quân nơi đây không khí Tết có phần nhộn nhịp hơn rồi đó! Cô gái nói một hơi mà không đợi hai đứa tôi trả lời, lúc cô gái dừng tiếng thì Bắc nhanh miệng cướp lời cô gái: -Phải, thưa cô! Có chúng tôi về đây thì chắc chắn sẽ vui thôi! Lính mà em! Quán này có gì uống vậy… người đẹp? Chúng tôi chỉ muốn uống nước thôi, lính nghèo lắm! Đãi hoặc tính rẽ nhen! Rồi sao này tôi sẽ trả công cho. Bắc cười hè..he….cái kiễu những chàng ‘Dê cụ’ khi nhìn thấy bông sua đủa, có lẽ cô gái cũng nhận ra điều đó khi nghe 2 tiếng “Người đẹp” từ cửa miệng anh chàng lính đa tình này nên 2 má hơi ửng đỏ lên với chút e thẹn trông cô càng đẹp hơn. Cô gái cười mỉm chi trên đôi má lúm đồng tiền, cô bé trông dịu hiền và dể thương lắm đã làm Bắc ngây ngất nhìn hoài không chớp mắt. Cô gái e ấp môi duyên rồi dịu dàng hỏi lại: -Trả công thế nào vậy anh? Bắc sẳn máu tuổi Mùi nên tấn công luôn: -“Lát nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho-Giúp em một thúng xôi vò-Một con lợn béo, một vò rượu tăm”. Cô gái mỉm cười rồi lảng sang chuyện khác: -Thôi! Em hiểu rồi! chừng nào có hẳn hay! Mấy người lớn nói, mấy anh lính đa tình lắm! Bay bướm lắm! Nhưng không có thủy chung-em không dám tin lính đâu. Có cà phê, đá chanh, nước ngọt và có cả bia nữa, hai anh có muốn uống bia không?-có khô bò, khô mực ngon lắm! Nghe cô gái giới thiệu có bia với khô bò, khô mực cũng phát thèm, nhưng nhớ lại hầu bao mình đã cạn, chẳng lẽ lần đầu tiên đến quán lại ghi sổ nên đành thôi. Quay sang Bắc tôi hỏi: -Bắc, uống gì mậy? Không đợi Bắc trả lời, tôi ngước lên nhìn người đẹp rồi nói: -Cô làm ơn cho tôi ly nước đá chanh đường, hơi chua một chút nhen cô! Đây là lần đầu tiên tôi nhìn rõ cô gái, cô ta có nét đẹp trông thật dễ thương-khuôn mặt hơi buồn và đôi mắt giống mẹ như đúc, cô đang nhìn tôi bằng một nụ cười tươi rất hiền hòa nhưng không còn ngây thơ nữa, dường như cô cũng đã có chút kinh nghiệm và đang lăn lóc với cuộc sống. Cô gái xoay nhẹ người nhìn vào Bắc rồi hỏi có một chút ý muốn trả đũa: -Còn anh này! Anh lính trẻ đẹp trai! anh dùng gì em sẽ làm thức uống cho anh cùng một thể? Bắc còn muốn trổ mòi nữa nên hỏi lại cô gái: -Theo cô thì tôi nên uống gì bây giờ! Có phải tôi đẹp trai thật không? Hay là cô đang trêu chọc tôi đó! Cô gái bật cười thành tiếng rồi trêu lại Bắc: - Thật mà! Anh đẹp thật! nhưng nếu anh cao hơn tí nữa thì anh sẽ càng đẹp trai hơn. Còn về thức uống thì em làm sao biết được anh nên uống gì, sở thích của từng cá nhân-nếu anh cho em cái quyền chọn giúp thì em sẽ mời anh uống nước chanh ít đường, hơi chua như anh này luôn nhé! Vừa nói cô vừa quay lưng đi vào chổ sửa soạn thức uống, Bắc cũng vội vàng đứng dậy theo chân cô gái, vừa đi hắn vừa cải chánh: Không… không! Tôi không uống nước chanh, cô làm ơn cho tôi ly cà phê đá nhiều đường một chút nha! Tôi thích ngọt ngào hơn là chua chát người đẹp ạ! Người đàn bà đang luây quây rữa ly và bát đĩa cũng dừng tay và góp tiếng vào câu chuyện: -Được rồi! con làm cà phê đá cho anh đi để mẹ pha nước đá chanh đường cho cháu kia. Cô gái ngắt lời người mẹ: -Thôi, mẹ nghĩ tay được rồi để con làm hết cho. Vừa nói cô vừa sửa soạn các thứ để pha 2 ly nước uống cho chúng tôi, thấy Bắc vẫn còn đứng xớ rớ bên con gái của Bà, hiểu ý nên Bà bước ra ngoài đến bên chiếc bàn tôi đang ngồi, thấy Bà đến tôi liền kéo chiếc ghế đôn đặt sát chân bà và lễ phép mời: -Dạ! xin mời Bác ngồi. Bà già nhìn tôi mỉm cười rất tươi rồi ngồi xuống, cùng lúc đó Bắc hai tay bưng đến cho tôi ly nước chanh đường, và luôn miệng hỏi bà già: -Bác uống đá chanh hay cà phê đá để cháu nói Mỹ Hiền pha luôn cho Bác. Bà già lắc đầu vui vẻ nói: -Tôi không uống đâu cậu. Tôi nghĩ thầm, mới đó mà nó đã biết tên con bé rồi, tôi bật cười trước cử chỉ gọn gàng của Bắc giống như một ông chủ quán, quay sang bà già tôi bơm thêm cho Bắc: -Cái thằng này nó như vậy đó Bác! Nó vui tính và dể làm quen với mọi người lắm! Bắc quay trở lại chổ cô gái tiếp tục tán tỉnh, còn Bà già thì bắt đầu tâm sự cho tôi nghe tất cả mọi câu chuyện và hoàn cảnh trong gia đình. Mỹ Hiền còn có một đứa em gái nữa tên là Mỹ Tiên hiện còn đang đi học, Bà cũng muốn khoe với một chút hảnh diện về cô con gái lớn của mình, Bà nói: -Có một ông Thiếu Úy trẻ ngành Quân Cụ đang theo đuỗi Mỹ Hiền, ông ngỏ lời muốn xin cưới, nhưng nó nại cớ là đang giúp mẹ nuôi em ăn học nên chưa bằng lòng, Bác nghĩ nếu nó ưng chổ này thì cũng được để Bác yên tâm rồi còn lo cho Mỹ Tiên nữa. Bà nói đến đây thì cô út Mỹ Tiên cũng từ nhà trong bước ra, vừa đi vừa nhỏng nhẽo với mẹ: -Mẹ ơi! Ăn cơm bây giờ chưa con đói bụng rồi? Bà già không trả lời câu hỏi của Mỹ Tiên mà bà chỉ nhìn vào đứa con gái út chỉ tay về phía tôi giới thiệu:
-Anh Đông, đơn vị mới về đóng quân dưới bến Đình trưa nay-chào anh Đông đi con! Mỹ Tiên vừa gật đầu chào tôi vừa liến thoắng: -Ủa! mấy anh mới đến đóng quân trưa nay hả? Tết năm nay có mấy anh về đây vui à nha! Bà vối tay xỉ yêu vào trán con bé rồi giới thiệu với tôi: -Con này là Mỹ Tiên, em gái của Mỹ Hiền và cũng là đứa con gái út của Bác, Ba nó tử trận lúc nó mới lên mười tuổi, Bác phải vất vã lắm mới nuôi được 2 đứa nó đến bây giờ. Bác sẽ cố gắng mấy tháng nữa cho nó thi Tú Tài-chứ Bác cũng mệt mõi lắm rồi.
Lúc này trong quán đã hoàn toàn vắng khách chỉ còn lại hai đứa tôi nên Bà đứng dậy hạ mấy tấm phên lồ ồ làm cửa xuống, Mỹ Tiên cũng giúp mẹ đóng những cánh cửa nhỏ còn lại, cô quay lại lau bàn rồi đi về phía người chị phụ giúp cho bửa cơm tối gia đình. Bắc cũng trở lại bàn, trên tay vẫn còn cầm ly cà phê đá, tôi nháy mắt với Bắc để tính tiền đi về. Chưa kịp nói tiếng nào thì bà già thúc giục 2 cô con gái dọn cơm tối, đoạn Bà quay sang chúng tôi mời ở lại cùng ăn cơm với bà một cách rất thành thật: -Không mấy khi gặp dịp, 2 cháu ở lại cùng ăn cơm với Bác cho vui, đừng ngại! Trước lạ sau quen mà Ba sắp nhỏ ngày xưa cũng là lính, thấy hai cháu đây làm cho Bác càng thêm nhớ đến ổng-Bác nhớ nhất là cái lần sau cùng ổng đi rồi không bao giờ trở về nữa. Bà nói mà như muốn nghẹn trong cổ họng, còn đôi mắt thì đang rươm rướm lệ, nghe vậy Mỹ Hiền lên tiếng cằn nhằn Mẹ: -Thôi mà Mẹ! Chuyện đã qua chín, mười năm rồi cứ nhắc hoài! Rồi tối nay Mẹ không ngũ được cho coi. Bà muốn nói tiếp nữa về chuyện lần ra đi sau cùng rồi không trở lại của người chồng thân yêu cho tôi nghe nhưng bị con gái cằn nhằn nên Bà thôi không nói nữa. Tôi đang tính mở miệng từ chối để kiếu chào ra về, liếc nhìn về phía Bắc tôi thấy hình như hắn muốn nhận lời, đúng là cái thằng ‘háo gái’-chưa kịp nói thì Mỹ Tiên tiếp lời mẹ: -Hai anh ở lại ăn cơm với gia đình em đi, mẹ em mời thật lòng đó! Không phải khách sáo đâu! ở lại ăn cơm với em nhen anh Đông! Hai anh ở lại ăn cơm với gia đình thì Mẹ em sẽ vui lắm! Anh về là em giận đó! Thế là không còn cách nào để từ chối được, chúng tôi đành phải ở lại dùng bữa cơm tối với họ. Bắc đang lúi húi phụ với Mỹ Hiền lo sửa soạn dọn cơm trên môi luôn nở nụ cười đắc chí, còn tôi thì bị Mỹ Tiên nắm cái tay áo lôi vào chiếc bàn học của cô phía nhà trong với thái độ như là người đã quen từ lâu lắm! Cô khoe khoang với tôi về những thành tích học hành, rồi cô phỏng vấn việc học hành của tôi trước khi vào lính, cô nhờ tôi hướng dẫn phương pháp nào hay nhất để ôn bài cho kỳ thi tú tài sắp tới của cô cho đến khi nghe tiếng mẹ gọi bên ngoài: -Mỹ Tiên à! Mời anh Đông ra ăn cơm đi con. Chúng tôi cùng gia đình của Mỹ Tiên có một bữa cơm tuy đơn sơ nhưng rất thân mật và vui vẻ, nhất là đối với Bắc hắn xem như một thắng lợi lớn. Sau lần này, mỗi đêm tôi và Bắc đều có mặt ở quán trong suốt thời gian ứng chiến không vắng một đêm nào. Với tôi, trên phương diện tình cãm chỉ đơn thuần là một sự thân-mến giữa người và người, mặt dù khách quan có thể nghĩ rằng tôi đang trồng cây ‘Si’ Mỹ Tiên, còn Bắc, bạn tôi là con kỳ đà cản mũi anh Thiếu Úy công tử Quân cụ nọ. Thực tế, Bắc không si mê Mỹ Hiền như mọi người lầm tưởng, mà Bắc và thêm vài người nữa trong đại đội 103F cùng si mê Mỹ Tiên như điếu đổ nhưng chính tôi như là cái vật cản ngăn không cho các bạn tôi đến gần Mỹ Tiên, nghĩ lại tôi cãm thấy có lỗi trong cái tình đồng đội. Tôi và Bắc thường xuyên đi chung đến quán cùng lúc, thấy tôi đến là Mỹ Tiên lôi tôi vào nhà trong mượn cớ là nhờ tôi dạy Toán nhưng thực chất là tán gẩu và nói chuyện Nam Tào mà thôi, Mỹ Tiên học rất giỏi nên cũng chẳng cần đến sự giúp đở của tôi, Bắc thỉnh thoảng nhìn tôi với ánh mắt ghen tức khi thấy Mỹ Tiên nắm lấy tay áo tôi mà lôi đi bằng cử chỉ giống như một người tình. Tôi hiểu rất rõ, Mỹ Tiên có nhiều thiện cãm với tôi, chỉ cần tôi mở miệng thì chắn chắn tôi sẽ chiếm trọn con tim ngây thơ bé bỏng của cô học trò có nét đẹp sắc são này. Tôi không thể phủ nhận rằng Mỹ tiên rất đẹp! Rất quyến rũ! Và rất đáng yêu! Nhưng trong con tim tôi lúc này không còn chổ trống để đặt hình ảnh của Mỹ Tiên vào, hiện tại trong đó đang có một bóng hình cũng đẹp, cũng đáng yêu đang ngự trị-tôi không thể vì một chút tham lam, háo sắc mà phản bội người tình-tôi có một chút ân hận vì không thành thật với Mỹ Tiên mặc dầu tôi chẳng phải là kẻ quá tham lam, tôi đã cố làm ngơ mà không để tâm đến đối tượng để rồi bất chợt tôi lại cũng ngẫn ngơ sầu. Có một Thi Sĩ nào đó viết mấy câu thơ buồn và hay quá! Tôi không nhớ tác giả là ai.
Mộng mơ Em! Sóng mang vào biển cả Tương lai Ta-Thủy triều cuốn vỡ tan Thôi! Hãy để Ta làm người xa lạ! Biết chăng Em! Đôi Ta-kiếp dã tràng!
Thêm người bạn nữa, Võ Phú Túc cũng cùng đại đội với chúng tôi-Túc là một anh công tử nhà giàu, gia đình có cơ sở buôn bán lớn trên đường Trần Quốc Toản Quận 10. Tôi và Túc không được thân thích và gần gủi như Bắc, nhưng cũng có một vài lần đến quán chung với chúng tôi và hắn cũng phát hiện và si mê Mỹ Tiên như Bắc vậy. Túc biết tôi đã có người yêu, trong mấy ngày Tết cô ấy có đến chổ đóng quân và gặp Túc một lần, sau đó Túc nói với tôi: -Ê Đông! Mầy tham lam vừa phải thôi mậy! Con Đào mày có thua gì Mỹ Tiên đâu! Mày còn bắt cá 2 tay coi chừng vuột cã đấy nhen ông bạn! Tôi trả lời với Túc có một chút tự đắc: -Tao không si Mỹ Tiên như mày tưởng đâu, tại cô ấy có vẽ thích tao vậy thôi! Mày có thể tiến tới không phiền hà gì đến tao đâu.
Nghe tôi nói Túc vội vàng hỏi lại: -Thiệt vậy hả? Tôi đáp ngay không chần chờ: -Thiệt mà. Thế là Túc sang số cho xe chạy tới, có một cuộc đua thầm lặng giữ Túc và Bắc mà chỉ có mình tôi biết nhưng tôi không phải là trọng tài, còn Bắc thì vẫn cứ làn xàn bên Mỹ Hiền nhưng đôi mắt thì hướng về Mỹ Tiên với cái vẽ thèm thuồng. Sau Tết vài hôm, đại đội chúng tôi thình lình được lệnh di chuyển đến an ninh cho hãng bột giặt ‘VISO’ thuộc xã Tăng Nhơn Phú, Thủ Đức trên đường vào cỗng của Trường Bộ Binh. Chúng tôi đành phải chia tay với cái gia đình mến thương nhiều tình cãm này. Khi chia tay tôi có để lại địa chỉ viết thơ và Mỹ Tiên cũng không quên cho tôi cái địa chỉ hộp thơ lưu trử của nàng. Bẵng một thời gian vài tháng từ lúc tôi rời khỏi bến Đình, tôi không liên lạc thư với gia đình Mỹ Tiên, tôi chỉ nhận duy nhất mỗi lá thư thăm của Mỹ Tiên lúc tôi đi chiến dịch trở về TTHLQT. Một chút bần thần và khó xữ trong tâm trí-nhưng tôi đã cố tình không hồi âm cho nàng, tôi nghĩ liên lạc nhau chỉ để làm khổ cho nhau rồi tạo thêm cái oan nghiệt tay ba càng rối rắm và phức tạp thêm chứ không có lợi ích gì!-Thôi! Đành quyết định làm người bất lịch sự-từ đó tôi đã cố tình quên lãng cái tên Mỹ Tiên trong trí nhớ của và tôi tự hứa với lòng sẽ không bao giờ nghĩ đến. Tôi được đưa đi thụ huấn giai đoạn 2 nơi miền Thùy Dương Cát Trắng, cái nơi đã cho tôi nhiều kỹ niệm trong cuộc đời binh nghiệp, tuy ngắn ngủi nhưng nó đã tạo cho tôi những ấn tượng sâu sắc, những nỗi buồn vương vấn trong ký ức “Nha Trang Niềm Thương và Nỗi Nhớ”.
Một lần ngồi một mình trong ‘Quán Chè Đông’ của trường Đồng Đế trước giờ ngũ của một đêm không đi ứng chiến, thấy Túc lang thang cũng một mình, tôi gọi và đùa với Túc: -Túc! Đang nhớ Mỹ Tiên hả? vào đây ăn chén chè với tao, tao nói chuyện Mỹ Tiên cho mà nghe. Túc cười và đi vào quán kéo ghế ngồi đối diện với tôi, tôi đi lấy chén chè cho hắn, vừa bưng ra chưa kịp ngồi xuống thì hắn mắng tôi: -Mày xạo quá! Tôi chưng hửng không biết có chuyện gì đây! Chưa kịp suy nghĩ thì Túc nói tiếp: -Tao đã gửi cho Mỹ Tiên 3 lá thư rồi, một vào lúc lên xe ra đây, rồi hai lá mới viết trong tháng rồi nhưng chỉ mới nhận được hồi âm cách nay 2 ngày thôi. Tôi cướp lời Túc -Thế là tốt rồi, sao? Khả quan chứ! Túc ậm ờ… một lúc rồi nói tiếp: -Chưa phát triển tới đâu cả, chỉ là thế thôi. Mỹ Tiên nói nếu có gặp mày cho cô ấy gửi lời thăm, cô ấy không có địa chỉ của mày. Cho mày hay là Mỹ Tiên đã thi đậu Tú Tài, và cô ấy đang ôn bài để thi vào Sư Phạm. Tôi ngắt lời Túc: -Chúc mừng cho cô ấy, và hy vọng sẽ có ngày chúc mừng cho 2 đứa mày một ngày rất gần. Chúng tôi ngồi tâm sự một lúc xoay quanh nàng “Mỹ Tiên”, tôi cố tình xao lãng và không bàn đến, rồi hai đứa chia tay nhau mạnh ai nấy về doanh trại của mình, Túc nói với theo: -Mỹ Tiên muốn xin địa chỉ của mày! Tôi quay mặt lại hỏi Túc : -Để làm gì? Không cần thiết đâu! Mày cứ nói với Mỹ Tiên là không gặp tao, lúc nào ra trường tao sẽ ghé lại Gò Vấp thăm Bà Già-tao mong mày nhanh chóng đạt được kết quả. Rời quán chè tôi quay lưng đi như chạy, tôi muốn cố tránh một chuyện gì sắp sửa xãy ra, tôi đi nhanh về giường ngũ của mình-tháo giày, mắc mùng, lên giường lấy chăn trùm kín đầu cố dỗ giấc ngũ, nhưng suốt một đêm tôi vẫn cứ thao thức với hình ảnh của Mỹ Tiên cứ chập chờn ẩn hiện trong tâm trí, tôi tự mắng mình: -Mày làm cái gì thế! sao mà vô duyên và mâu thuẩn như vậy! Tôi thiếp đi vì cái uể oãi của thể xác, cái tên Mỹ Tiên cũng dần theo thời gian mà đi vào quên lãng, không gặp Bắc hay Túc một lần nào nữa cho đến gần đến ngày mất nước. Tôi có trở lại bến vắng ngày xưa một lần lúc có việc liên hệ công tác ở Tiễu khu Gia Định-mục đích duy nhất trong thâm tâm tôi là đến thăm người góa phụ mà tôi cãm thấy thương mến và kính trọng, nhưng khi đến nơi thì cái quán vắng ngày nào nay đà đổi chủ.
Căn nhà này được bán lại cho gia đình ông Thượng Sĩ Quân Cụ sau khi Mỹ Hiền và Mỹ Tiên đều đã lập gia đình. Tôi đã trực tiếp hỏi thăm Bà Thượng Sĩ, người chủ mới của căn nhà, Bà ấy nói với tôi: -Mỹ Hiền nay đã là Trung Úy Quân Cụ phu nhân (Ô. Thiếu Úy đã đeo đuỗi cô trước đây) họ đang sống ở căn nhà của cha mẹ cho trên đường Võ Di Nguy Phú Nhuận, Mỹ Tiên thì cũng kết hôn với một Chuẫn Úy sau đó một năm. Nghe đâu ông Chuẫn Úy này có về đây ứng chiến một lần trong dịp tết lúc ông còn thụ huấn ở TTHLQT bây giờ thì cũng không biết họ ở đâu, còn Bà già thì sau khi bán căn nhà lại cho tôi Bà ta đã trở về An Phú Đông sinh sống, từ đó đến giờ tôi không còn gặp Bà lần nào nữa. Nghe Mỹ Tiên kết hôn với một chàng Chuẫn Úy 10B/72, tôi vẫn không nghĩ ra được người diễm phúc đó là ai, vẫn bán tín bán nghi một trong hai Bắc hay Túc là chồng của Mỹ Tiên mà thôi! Tất cả tôi đã quên và xếp lại cho vào nằm yên một góc của tâm hồn từ dạo đó. Rồi ba mươi bốn năm sau, tôi được mời dự tiệc cưới con trai của người bạn 10B/72 ở miền Nam California ngay vào mùa Thanksgiving 2007-Bọn 10B/72 chúng tôi có dịp gặp lại nhau trong tiệc cưới, tay bắt mặt mừng sau hơn ba mươi năm chưa một lần gặp mặt trong bầu không khí hết sức cãm động trước giờ nhập tiệc. Vợ chồng tôi được sắp xếp ngồi ngồi cùng bàn với bốn đôi bạn khác tất cả đều là 10B, mọi người liên thiên tâm sự nhau rất là vui vẻ-Có nhiều thằng bạn cùng trung đội, đại đội nó nghe tôi đến từ miền Bắc California, nó đến nhận ra tôi-tôi cũng nhận ra nó khi chúng tôi nhắc với nhau một vài kỷ niệm có với nhau trong cuộc sống ở quân trường rồi cùng cụng ly vui mừng khôn xiếc. Sau cùng có một người đến vỗ vai tôi, mắt hắn thì nhìn chằm chằm vào vợ tôi như đang muốn tìm một cái gì trong quá khứ, hắn cười cười và hỏi: -Hê Đông! Nhận ra tao không mậy! Tôi quay lại nhìn vào người mới vỗ vai mình rồi cố moi óc ra để nhớ xem hắn là ai, đôi mắt hắn vẫn không rời khỏi khuôn mặt vợ tôi-vô cùng thắc mắc nhưng cũng không thể nào nhớ nỗi vì hắn đã thay đổi quá nhiều từ khuôn mặt, dáng vấp cho đến tác phong nên đành chịu và từ tốn hỏi: -Xin lỗi! tôi không thể nhớ nổi, anh tên gì? Mình có ở chung nhau lúc nào không? Anh có thể nhắc lại một kỷ niệm nào đó thì may ra tôi còn có thể nhớ được! Cả bàn tiệc ngoại trừ tôi, bốn người còn lại đều là dân cư ngụ ở miền Nam Cali, họ cũng đồng tình với hắn ngồi im lặng chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra và mọi người đang thắc mắc tại sao hắn cứ nhìn soi mói vào hướng vợ tôi như vậy. Sau khi đưa ly mời cả bàn cùng cạn chén, hắn chẫm rãi hỏi tôi: -Mầy có nhớ Mỹ Tiên bến Đình không? Hắn vừa nhắc đến Mỹ Tiên, nhìn cái nụ cười của hắn tôi nhớ ra ngay hắn là Lê Tấn Bắc rồi. Tôi vọt miệng nói ngay: -Bắc ơi! Mày thay đổi nhiều quá! tao không thể nhận ra mày thứ lỗi cho tao nha! Còn Mỹ Tiên thì làm sao không nhớ được. Tôi vừa nói đến đây, thì có người đến nhờ Bắc việc gì đó nên Bắc ngắt ngang: -Tao đi đây một chút sẽ trở lại ngay. Bắc đi rồi, tôi tự trấn tỉnh lại để đè nén cái cơn bồi hồi khi nghe có người nhắc đến Mỹ Tiên, chợt nhớ ra một điều “Chồng Mỹ Tiên là một Chuẫn Úy 10B/72” tôi liền hỏi bốn người bạn ngồi chung bàn: -Mấy ông có biết vợ thằng Bắc là người nào không? Lúc này trên sân khấu tiệc cưới đã bắt đầu chương trình văn nghệ, 2 người ca sĩ xồn xồn đang song ca bản “Ô Mê Ly” của Văn Phụng. Họ ca rất hay và cũng có vẻ chuyên nghiệp lắm! Minh, một người cũng khá thân, lúc ra trường cùng về chung một đơn vị với tôi, hắn chỉ về hướng sân khấu rồi nói: -Đó! Đó! Người bên phải đang ca trên sân khấu đó! Bà Bắc đó! Tôi nhìn lên sân khấu để quan sát người ca sĩ bên phải từ đầu đến chân, rồi từ chân đên đầu và cố tìm xem có cái nét nào là Mỹ Tiên hay không! Nhưng không, hoàn toàn không có. Tôi quay sang hỏi Minh:
-Minh! Bà xã thằng Bắc tên gì không? Minh trả lời ngay: -Minh Tuyết. Tôi lẫm bẫm một mình: -Không phải là Mỹ Tiên, hay là Mỹ Tiên rồi đổi thành Minh Tuyết. Tôi nhìn lên sân khấu một lần nữa, bản nhạc “Ô Mê Ly” cũng vừa dứt tôi quan sát vợ Bắc qua cái dáng đi khi cô rời sân khấu rồi khẳng định chắc chắn là không phải Mỹ Tiên. Bắc trở lại bàn chúng tôi rồi cùng nâng ly một lần nữa, vừa để ly xuống Bắc vừa nói với tôi và cho mọi người cùng nghe: -Nghe tên mày từ miền Bắc Cali xuống đây dự đám cưới, tao nghĩ ngay là mày-tao nhận ra ngay lần đầu tiên đối diện, mày chỉ có già đi chứ không thay đổi nhiều. Tao đã cố tình quan sát bà xã mày từ nãy giờ để xem có phải là Mỹ Tiên không! Nhưng không thấy cái nét nào của Mỹ Tiên cả, không phải! như vậy chồng Mỹ Tiên là thằng nào trong 10B mày có biết không? Ôi! ông Trời ơi! Tôi làm sao có thể trả lời cho Bắc bây giờ! Tôi nghĩ là nó, nó nghĩ là tôi-Thực tế cả hai đều không phải. Bắc cũng đã biết được Mỹ Tiên đã là nàng dâu của 10B và luôn nghĩ rằng tôi chính là chồng của Mỹ Tiên, ngược lại thì tôi nghĩ một trong hai Lê Tấn Bắc hoặc Võ Phú Túc là chồng của Mỹ Tiên. Lúc này các bà dâu của 10B ngồi cùng bàn với tôi đang lao nhao lên thắc mắc hỏi chồng: -Mỹ Tiên là ai vậy? sao có vẻ quan trọng với Ô. Đông và Ô. Bắc quá vậy! Sự thắc mắc này không được ai trả lời cho đến khi tàn tiệc cưới, tôi chỉ hỏi Bắc và bốn người bạn trong bàn cưới: -Mấy ông có biết Võ Phú Túc ở 103F không? Mày nhớ nó không Bắc? cái thằng có vẻ công tử ở trung đội 2 đó! Bắc lắc đầu mà tay phải vẫn còn bóp trán, trong bàn cũng không ai còn nhớ Túc và cả Bắc cũng không nhớ nữa! Cũng không ai biết Túc còn sống hay đã chết trong số 1.076 (một ngàn lẻ bảy mươi sáu) Chuẫn Úy của 10B/72 mà hiện giờ gặp lại nhau đây chưa quá nữa trăm người. Câu chuyện về Mỹ Tiên đã chìm quên trong ký ức của tôi hơn ba mươi bốn năm trời, gặp lại Bắc từ hơn một năm nay, ký ức đã khơi dậy trong tâm thức tôi cái hình ảnh ấm áp tình người giữa tôi, Bắc và gia đình Mỹ Tiên trong mấy ngày Tết Nguyên Đán 1973. Mười bốn tháng trôi qua, có lúc tôi cũng đã trăn trở và suy tư về Mỹ Tiên, rồi cũng tự trách mình với một chút ân hận. Thử dùng phép khử trong Toán Học áp dụng ở đây thì quả nhiên chồng của Mỹ Tiên phải là Võ Phú Túc không thể sai được, nhưng sao trong tâm trí tôi cứ mãi suy nghĩ vẫn vơ là Túc còn hay mất, nếu Túc còn thì cuộc sống của họ bây giờ ra sao? Mỹ Tiên có được cuộc sống hạnh phúc bên chồng hay không? Ngược lại nếu Túc đã chết rồi thì cuộc sống của Mỹ Tiên bây giờ như thế nào?-Không có câu trả lời, tôi thật là vớ vẫn. Bây giờ là cuối Đông 2008, chỉ còn hơn một tháng nữa là đến Tết Nguyên Đán rồi. Nhớ đến câu chuyện “Mỹ Tiên” của ba mươi sáu năm trôi qua thật nhanh và những chàng lính trẻ si tình 10B/72 SQTB gặp lại nhau đây gối mõi chân chồn và mái tóc xanh ngày xưa nay đã bạc gần nữa mái, tôi chỉ còn biết cầu nguyện với cái điều mong ước duy nhất là Võ Phú Túc còn sống và Mỹ Tiên được sống hạnh phúc bên chồng cùng một đàn con ngoan ngoãn và xinh đẹp ở một nơi nào đó trên cái đất nước Tự Do này. Ngược lại nếu Mỹ Tiên hiện đang cô đơn, cơ cực với cuộc sống nghèo khổ trong nước thì tôi đây chính là người phải có một phần trách nhiệm cho cái mệnh số đen bạc của nàng. Tôi rất sợ “Tài Mệnh đố Hồng Nhan”,tôi sợ cái phần số đen đủi bám víu theo nàng như thân phận hẩm hiu của người Mẹ đã nuôi nàng khôn lớn. Thôi! Dầu sao đi nữa cũng là “Định Mênh” mà Thượng Đế đã an bày cho mỗi người. Xin cám ơn người bạn đồng môn, đồng khóa Võ Phú Túc một cách chân thành! Riêng đối với Mỹ Tiên, tôi có nhiều ân hận về cái cung cách đã đối xử với nàng, tôi muốn có một lời xin lỗi: “Mỹ Tiên ơi! Hãy tha thứ cho anh, nếu vô tình anh đã đem đến cho em và những người thân một sự phiền muộn nào đó! Thì xin thành thật xin lỗi em! Ngàn lần xin lỗi em đối với câu chuyện ngày xưa!./.
Trên Đầu Súng Sáng tác trong mùa hè đỏ lửa 1972 (Nhịp 2/4 Hùng dũng. Mạnh, hát tròn tiếng Điệu Fox chậm
1. Trên đầu súng quê hương . . . tổ quốc đã vươn mình Trên lưỡi lê căm hờn . . . hờn căm như triều sóng Ôi xôn xao . . . chiêng trống hối thúc Đã giục giã khắp . . . chốn rộn rang Ôi lửa thiêng dậy bập bung Tay đốt….. lửa tay vung kiếm
2. Trên đầu súng xâm lăng . . . xiềng xích với bạo tàn Trên lưỡi lê nô lệ . . . cùm gông phải gục ngã Tay nâng niu . . . cây súng súng thép Với đạn đồng mới . . . đã lên nòng Và những loạt đạn đồng vàng Vun lúa . . . trổ tràn đồng sâu
Điệp khúc:
Cho quê hương ta rạng ngời Cho yêu thương xanh vời vợi Cho quê hương ta những đoá tuổi xuân Để mai đây nghe nắng dậy hoà bình Để ông cha còn[nắm đất phủ mình Ôi quê hương ta nước Việt….
3. …Nam từ đó dâng lên . . . nhà máy với công trường Những xí nghiệp ngôi trường . . . nhà thương và hầm mỏ Ôi bao la . . . thăm thẳm bát ngát Cánh đồng vàng . . . với lũy tre xanh Và tiếng ê a đầu làng Là kinh nguyện cầu cho người gục xuống
(chép theo băng video Asia 36, chủ đề "Người Lính")
Tài liệu tham khảo: Tuyển tập nhạc: Đường Đi Không Khó Nhà xuất bản Văn Nghệ Dân tộc. Cục Tâm-Lý-Chiến ấn hành 1974 .
Con Ðường Vui Ðoàn người tưng bừng về trong sương gió Hồn như đám mây trắng lững lờ Giang hồ không bờ không bến Ðẹp như kiếp trai anh hùng
Anh dương lên Một đoàn thanh niên Giục nhau đi từ khi nắng sớm Lúc gió chiều về trong tiếng tiêu Bóng ai còn in trên đường dài
Ðoàn người đi Vượt rừng qua núi Bước chân vui qua miền xa xôi Kìa là đoàn người Việt Nam gieo thắm tươi
Ðoàn ta vui bước trên đường mưa gió về Còn nghe vang dư âm bao lời ca âu yếm Ðoàn ta tai lắng nghe hồn chinh chiến về Ðường xa đi chưa quên bao thù xưa
Thao Trường Hành Khúc (Quân Trường Vang Tiếng Gọi)
Đây khúc ca vang nơi quân trường đầy hào hùng Vai sánh vai ta thi tài trong tình quân ngũ Đường còn dài nhưng chân cứng đá mềm Một hai ba bốn, một hai ba bốn ( 2 lần)
Anh em ơi!(Anh em ơi) Đem sức trai, nêu chí hùng, Lưu dấu ngàn thu.(lưu dấu ngàn thu) Anh em ơi!(Anh em ơi) Ta quyết thề, đem mồ hôi rữa gội căm thù.(rữa gội căm thù)
Thao trường đổ mồ hồi (Thao trường đổ mồ hồi) Chiến trường bớt đổ máu.(Chiến trường bớt đổ máu)
Bước bước bưóc trong hăng say Ta thi gan lòng hào hùng Làm rạng ngời con cháu Tiên Rồng
Thao trường đổ mồ hôi(Thao trường đổ mồ hôi) Chiến trường bớt đổ máu (Chiến trường bớt đổ máu)
Cố lên ! Cố lên! dù nhọc nhằn Đem mồ hôi pha máu hồng viết thành sử xanh
Houston đi dễ khó về ..hehehe Ngày rời Houston, Phong đã để quên con con tim ...
Gởi kèm theo PPS Áo lụa Hà-Ðông của anh Trân bài thơ vui. Phạm Hùng, TX
Ðược tin bạn lấy vợ Ẩn danh
Ðời trai thôi đã thôi rồi Tin mầy lấy vợ ..rụng rời lòng tao! Ðang bay nhãy sướng thế nào Tự nhiên mầy lại vướng vào vợ con
Vợ con là cái lòng son Ðường vào thì có, chẳng còn đường ra! Vợ mầy là con người ta Nghĩ mầy với nó chẳng bà con chi
Con gái là cái quái gì ? Mà mầy mê mệt, mầy đi vào trồng Thuyền quyên là bẩy anh hùng Bao người đã chết, mà không thấy à ?
Ngày xưa mầy vẩn ba hoa “Thằng nào ngu mới bị xa lưới tình “ Giờ đây ..cáo đã thành tinh Ðã thấy bẩy xập ..lại xin được vào !
Ðộc thân thì sướng biết bao Bao nhiêu con gái đua nhau lời mời Bây giờ đã có vợ rồi Ði về khai báo, chạy trời khỏi mưa
Tiền lương hằng tháng phải đưa Tiền xài mua sắm phải thưa với bà Thân trai rửa bát, quét nhà Vợ kêu thì dạ..còn ra nổi gì ?!
Bạn bè rũ nhậu chẳng đi Sợ về nằm thảm tối thì đứt hơi Hu hu hu ấy mầy ơi! Kể như tao khóa cho đời bạn tao .
Chết tui zzùi
Mèn ơi, thôi chết tui zùi Hôm qua mới lấy vợ vui quá chừng Hôm nay nghe nói …chững hưng! Chời ơi, khỉ gió hỏng ngưng tao liền
Bây giờ tao đã vào kiềng Tấm thân 7 feet lọt thuyền sang ngang Ngày xưa tao tưởng mộng vàng Nên tao mới dám hiên ngang qua phà Giồng sông con nước chảy xa
Giờ tao có nhảy..chắc là chìm luôn! Thiệt cho cái tật ngông cuồng Thấy ai cũng khoái, chẳng buông em nào Giờ đây khép cổng sân rào
Ðọc thơ mầy viết ...nghẹn ngào lòng tao Thôi thì ..tao đã lỡ vào Vợ kêu ta dạ, lẽ nào tao thua…
Cá kho, thịt mặn, canh chua Tao đây sẽ nấu đâu thua nhà hàng Một lòng hết sức vì nàng Nấu cơm rửa chén nghề chàng mà em
Một câu chẳng phải nói thêm Hai chân anh chạy ngày đêm chẳng màng Mai nầy mầy có đi ngang Nhớ vào lao ráo...hai hàng lệ rơi,
Nhắn dùm mấy đứa bạn đời Nói tao nhớ lắm những thời liệt oanh Tụi bây có nhậu… nhớ dành cho tao Chai beer với ngụm thuốc lào Thắp thêm một nén hương màu cho tao