
Tuesday, November 27, 2007
Thursday, November 22, 2007
Từ Quang Trung đến Đồng Đế
Khóa 2/68: từ Quang Trung đến Đồng Đế
( Những Gì Còn Nhớ )
Năm 1991, tôi đến Washington D.C. thăm một người bạn vừa cùng quê, vừa cùng ghe vượt biên năm 1986. Bạn tôi làm vài món ăn, và mời vài ba người bạn láng giêng đến nhâm nhi. Một trong mấy người láng giềng của bạn tôi xưng là Thiếu Úy Nhảy Dù, hỏi tôi thuộc binh chủng nào. Tôi trả lời Địa Phương Quân. Ông Thiếu Úy nầy có lẽ không có cảm tình với Địa Phương Quân nên phán liền "mấy ông Địa là vua một cõi rồi". Sau đó, vị nầy lại hỏi tôi học khóa mấy. Tôi cho biết tôi học khóa 2/68 SQTB Đồng Đế. Ông Thiếu Úy chỉnh tôi liền, "Anh nói sao chớ Đồng Đế làm gì có khóa sĩ quan?". Tôi thấy hơi khó chịu, nhưng vẫn ôn tồn nói rằng kể từ năm 1968, SQTB có khóa học trọn ở Thủ Đức, có khóa chia hai, phân nửa học ở Thủ Đức, phân nửa ở Đồng Đế. Khóa 2/68 là khóa SQTB đầu tiên được huấn luyện tại Đồng Đế. Ông nầy vẫn tỏ vẻ không tin, khẳng định là ông ấy học ở Thủ Đức, không bao giờ nghe chuyện sĩ quan ra học ở Đồng Đế cả. Tôi nghĩ ông nầy là Thiếu Úy giả, nên không muốn nói thêm, và đề nghị là chuyện đó nên để sau nầy hãy phối kiểm lại, bây giờ ăn nhậu cho vui. Dù giả lả, buổi nhậu vẫn kém vui, mấy người láng giềng của bạn tôi rút lui sớm. Tôi nhớ hồi đi tù cải tạo, cũng có một số đàn anh không biết là sau nầy Đồng Đế có các khóa sĩ quan trừ bị, nhưng nghe giải thích là các anh tin ngay, chứ đâu có sừng sộ như ông láng giềng của bạn tôi ở Washington D.C.? Mãi sau nầy, tôi mới nghe nói là đến năm 1973 ( 1 ) Đồng Đế đã ngưng huấn luyện sĩ quan trừ bị. Những ai vào Thủ Đức từ 1973 về sau có thể không biết chuyện từ những năm trước. Tôi thấy hối tiếc đã nghi lầm ông Thiếu Úy Nhảy Dù láng giềng của bạn tôi ở Washington D.C. năm nào. Các bạn đồng môn nếu gặp trường hợp như tôi có lẽ cũng chẳng vui, nhưng xét cho cùng, vì số lượng sĩ quan được đào tạo từ Đồng Đế quá ít so với Thủ Đức, nên chẳng trách có nhiều người không biết.
Ngày 16 tháng Tư năm 1968 tôi vào lính. Từ một tỉnh ở Tiền Giang, một người bạn tên Phước và tôi thuộc tài nguyên sĩ quan cùng hơn hai mươi tân binh quân dịch khác được đưa về Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ trên một chiếc GMC mười bánh. Sau các thủ tục nhập ngũ, khám sức khỏe, chúng tôi được phát mỗi người một số quân dụng như bi-đông, cà-mèn, mùng mền, chiếu v.v...Bữa cơm đầu tiên trong trại lính tuy không ngon miệng lắm nhưng hai đứa tôi đều ăn hết sạch. Phiền một nỗi là đêm về nằm trên chiếc giường gỗ hai tầng, bị rệp tấn công quá mức nên ngủ không yên.
Tuy chỉ ở trại Nguyễn Tri Phương năm, ba hôm, nhưng qua những buổi sinh hoạt của các sĩ quan cán bộ, chúng tôi được cho biết là kể từ khóa 1/68 trở về sau, việc chấm điểm tốt nghiệp sẽ khó khăn hơn trước rất nhiều, do đó chúng tôi cần phải chú tâm, cố gắng học tập, nếu không sẽ ra trường với lon Trung Sĩ. Vài người trong số tân binh chúng tôi tỏ ra sành sõi, nói mấy ông sĩ quan nầy hù. Một số khác cũng là tân binh, không biết lượm tin từ đâu, lại nói rằng từ nay mỗi khóa sĩ quan sẽ có 50% bị đánh rớt xuống hàng hạ sĩ quan, và các khóa hạ sĩ quan sẽ bị đánh rớt 50% xuống hàng binh sĩ, theo kế hoạch "đôn quân".Tin "đôn quân" càng được củng cố thêm khi chúng tôi được đưa vào trại Võ Tánh, nơi đó khóa 1/68 đang thụ huấn tuần lễ thứ ba. Khóa 1/68 có khoảng 1.000 khóa sinh, đa số là sinh viên, học sinh, thuộc thành phần tình nguyện. Khóa 1/68 được tổ chức thành tiểu đoàn có tên là Tiểu Đoàn Nguyễn Huệ, bảng tên nền xanh dương, chữ trắng. Khóa 2/68 có khoảng 2.000 khóa sinh, tôi không nhớ rõ là một hay hai tiểu đoàn, riêng chúng tôi được xếp vào Tiểu Đoàn Gia Long, bảng tên nền xanh lá cây, chữ đen. Phước và tôi vẫn ở cùng trung đội, thuộc Đại Đội 28, do Trung úy Th. làm Đại Đội Trưởng. Phụ tá cho Đại Đội Trưởng là Trung Úy B. và Chuẩn Úy TTL., mỗi ông coi 2 trung đội. Tôi nhớ rõ tên, họ của Chuẩn Úy L. vì ông nầy rất nguyên tắc. Xin kể một chuyện rất ngắn về ổng. Ở TTHL/ Quang Trung các lối đi trong doanh trại trồng rất nhiều cây bả đậu, dưới mấy tàn cây nầy là những bồn chứa nước uống không có nắp đậy. Trái bả đậu rớt vào bồn làm nước nhiễm độc, rất nhiều khóa sinh bị tiêu chảy vì uống nước trong các bồn nầy. Tôi cũng là nạn nhân, nên có một lần tôi bị tiêu chảy, đi cầu cả đêm. Sáng hôm sau mệt lả người, tôi trình diện Chuẩn Úy L. xin ở lại trại để đi khám bệnh, uống thuốc. Ông ấy phán "phải khai bệnh trước 24 tiếng mới được nghỉ." Luật nhà binh thi hành trước, khiếu nại sau, tôi vẫn súng đạn nón sắt cùng các bạn ra bãi. May mà ở Quang Trung, các đường ra bãi tập cũng như các bãi tập đa số nằm trong khu vực của trung tâm, vắng vẻ, nhiều lùm bụi nên tôi giải quyết được chuyện phiền toái nầy. Hôm sau thì bụng đã êm nên tôi không xin phép ở lại trại làm gì nữa.
Trở lại chuyện "đôn quân", tôi được một vài người bạn khóa 1/68 Dự Bị Sĩ Quan cho biết thêm về tin không vui là sẽ có 50% bị đánh rớt. Các bạn còn nói thêm rằng hồi trước ai theo học khóa sĩ quan khi vào quân trường thì được gọi là Sinh Viên Sĩ quan, bây giờ thì chúng tôi được gọi là Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan, điều đó chứng tỏ chưa chắc là tất cả mọi người sẽ được theo học khóa sĩ quan. Tôi cũng có một vài người bạn theo học khóa hạ sĩ quan đang ở giai đoạn 1 tại Quang Trung. Mấy người bạn nầy cũng xác định tin các khóa hạ sĩ quan sẽ có 50% bị đánh rớt để ra binh nhì, và các khoá sĩ quan sẽ rớt 50% để học khóa hạ sĩ quan. Nhiều tin tức ăn khớp như vậy, ngờ vực mấy rồi chúng tôi cũng phải tin.
Lúc chúng tôi đang thụ huấn tại Trung tâm Huấn luyện Quang Trung cũng là lúc Việt Cộng mở đợt 2 tổng công kích vào các thành phố toàn miền Nam, trong đó có Thủ đô Sài Gòn. Tình hình an ninh kém nên chúng tôi chỉ được phép ra chơi phố một lần duy nhứt, sau đó thì bị cấm trại 100%. Vườn Tao Ngộ ở Quang Trung từ đó rộn rịp vào mỗi cuối tuần, được nhiều người biết đến qua nhạc phẩm cùng tên với câu mở đầu "Hôm nay ngày Chủ Nhật, Vườn Tao Ngộ em đến thăm anh".
Sau tám tuần lễ huấn luyện, toàn thể khóa 1/68 được nghỉ phép một tuần rồi vào trình diện theo học giai đoạn 2 tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Đến khi khóa 2/68 kết thúc giai đoạn 1 tại Quang Trung, tình hình lại khác. Chúng tôi được chia làm hai, phân nửa tham dự cuộc hành quân cuối khóa, trong đó có Phước ( 2 ), phân nửa ở lại Trung Tâm, trong đó có tôi. Các khóa sinh thạo tin, biết ngay rằng thành phần tham dự cuộc hành quân cuối khóa sẽ qua Thủ Đức, thành phần còn lại bị đánh rớt sẽ ra học khóa hạ sĩ quan tại Trường Đồng Đế, Nha Trang. Buồn rầu, xấu hổ, bất mãn, một số bắt đầu quậy phá doanh trại. Như biết trước tình hình bất ổn, trong khu vực Tiểu Đoàn Gia Long hoàn toàn không thấy bóng dáng một sĩ quan hay hạ sĩ quan cán bộ nào cả. Chúng tôi được thông báo rằng có các đơn vị Quân Cảnh đến tăng cường để áp giải chúng tôi qua trại chuyển tiếp rồi sau đó đưa ra phi trường lên máy bay quân sự ra Nha Trang. Gần suốt một đêm ồn ào không ngủ làm chúng tôi rả rời, mệt mỏi. Chiều hôm sau, Chuẩn Tướng Lê Ngọc Triển, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung đã cho tập họp chúng tôi lại để giải thích. Chuẩn Tướng Triển xác nhận rằng chúng tôi bị đánh rớt vì điểm tác xạ kém. Một khóa sinh lên tiếng rằng, chúng tôi bị đánh rớt không phải vì lý do đó, mà vì Tổng Cục Quân Huấn đã có sẵn chỉ tiêu phải đánh rớt 50%, phù hợp với phân nửa số khóa sinh qua Thủ Đức, phân nửa ra NhaTrang. Một khóa sinh khác nói sĩ quan là cấp chỉ huy, khả năng chỉ huy dựa trên nhiều yếu tố khác chứ không phải chỉ căn cứ vào điểm tác xạ. Một khóa sinh khác nữa lên tiếng rằng, Quang Trung là nơi đào tạo Binh Nhì, chúng tôi đã không đủ điểm để ra Binh Nhì, thì ra Binh Ba, sao lại được theo học khóa Hạ Sĩ Quan? Tướng Triển nghiêm giọng khiển trách " anh nói như thế là mạ lỵ quân đội", và có lẽ thấy rằng dù có giải thích thế nào cũng không thuyết phục được anh em khóa sinh nên Tướng Triển nại lý do đã quá giờ dùng cơm chiều của ông ta để chấm dứt buổi nói chuyện. Đêm hôm đó các cán bộ thuộc Phòng Chiến tranh Chính trị của quân trường bắt đầu lên tiếng qua máy phóng thanh kêu gọi các khóa sinh bình tĩnh, đừng để bị phạm quân kỷ ảnh hưởng đến tương lai, và cho biết rằng Trung Tâm đang cứu xét để “vớt” một số cho theo học khóa Sĩ quan. Quá nửa khuya đêm đó, họ yêu cầu mọi người tập họp nhưng không ai rời buồng ngủ. Sau đó họ đọc tên từng người không không theo thứ tự alphabet, cũng không theo Đại Đội hay Trung Đội gì cả. Có thể những người được gọi tên trước có cảm tưởng rằng mình nằm trong danh sách những người được vớt, nên xiêu lòng mang quân trang bước ra sân. Những người khác cũng đã chán nản vì nghĩ rằng có làm gì đi nữa cũng chẳng có gì thay đổi, nên từng người một quẩy ba-lô và túi quân trang bước ra sân tập họp, sau đó lên xe ra phi trường Tân Sơn Nhứt, trong khu quân sự, chờ lên máy bay. Từ sáng sớm đến giữa trưa, chúng tôi lần lượt từng trung đội lên các máy bay vận tải quân sự do phi công Mỹ lái đưa ra Nha Trang.
Sau hơn một giờ bay, chúng tôi đến phi trường Nha Trang, hình như nằm gần bờ biển. Một số sĩ quan, hạ sĩ quan cán bộ của Trường Đồng Đế cùng đoàn xe GMC đang đón chờ chúng tôi trên sân phi trường. Tác phong chững chạc và thái độ ân cần của quý vị cán bộ của Trường đã khiến chúng tôi vừa nể vì vừa cảm thấy rất được an ủi. Phù hiệu trên vai áo của quý vị tuy màu sắc và đường nét đơn giản nhưng sáng, mạnh. Dù mệt nhọc sau mấy đêm không ngon giấc và sau chuyến bay, chúng tôi như khỏe lại, hăng hái lên xe tiến về Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mà mọi người quen gọi là Trường Đồng Đế. Qua ký ức, tôi không nhớ rõ hình dáng, nhưng bức tượng người chiến binh bằng đồng đen trước cổng Trường lúc đó đã tạo cho chúng tôi một ấn tượng mạnh. Một người bạn cùng xe nói đùa: " tụi mình phải đen thui như vậy đó mới ra trường". Trường nằm khang trang dưới bóng
những hàng thông xanh, những cây bàng đầy bóng mát. Phía sau trường là một dãy núi chắn ngang, thấp thoáng bức tượng người chiến binh màu trắng trên một ngọn đồi, tạo thành một khung cảnh thật hùng tráng.
Sau bữa cơm trưa đã muộn, và sau khi được sắp xếp chỗ ở, tắm giặt, chiều hôm đó chúng tôi được tập họp ở Vũ Đình Trường, diện kiến Đại Tá Lê Văn Nhựt ( 3 ), Chỉ Huy Trưởng Trường. Đại Tá Nhựt đã nhiệt liệt chào mừng chúng tôi, những tân khóa sinh Hạ Sĩ Quan bằng một bản nhạc hùng do Ban Quân Nhạc của Trường hòa tấu thật xuất sắc. Đại Tá Nhựt cho biết trường hợp của chúng tôi đang được Tổng Cục Quân Huấn và Bộ Tổng Tham Mưu cứu xét, và ông tin tưởng rằng đa số chúng tôi sẽ tiếp tục theo học khóa Sĩ Quan Trừ Bị tại đây. Đại Tá Nhựt nói thêm: "Khi ra trường, các anh sẽ là Chuẩn Úy. Mà Chuẩn Úy là một hạ sĩ quan cao cấp, do đó nếu các anh được đào tạo tại Trường Hạ Sĩ Quan cũng là một điều hợp lý. Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế rất vui mừng và hãnh diện được lãnh trách nhiệm huấn luyện các anh." Buổi nói chuyện của vị Đại Tá Chỉ Huy Trưởng đối với chúng tôi thật đầy khích lệ. Trên đường về "sam" của mình, chúng tôi gặp những đoàn quân súng Garant cầm tay, đang rầm rập bước đều. Họ là các khóa sinh Hạ Sĩ Quan trên đường về từ bãi tập. Người nào da cũng sạm đen, trông thật rắn rỏi, khỏe mạnh. Dây ba chạc mang trên người các anh với túi đạn, bi-đông nước càng làm tăng vẻ " chính quy " của người lính. Do có thêm chúng tôi với quân số khoảng 1.000 người, phòng ốc trong quân trường không đủ sức chứa, các khóa hạ sĩ quan đàn anh phải ra ở bên ngoài hàng rào trường trong những căn lều thật lớn.
Sau buổi cơm chiều là giờ tự do, chúng tôi có dịp tiếp xúc trò chuyện với một vài khóa sinh Hạ Sĩ Quan. Qua các anh, chúng tôi biết được hai câu thơ mô tả cảnh bức tượng chiến binh và đồi núi sau lưng:
Em nằm xõa tóc đợi thiên thu.
Quả thật cảnh đồi núi nhìn từ quân trường có những đường nét hệt như một cô gái ngực trần đang nằm với mái tóc xõa dài, trông thật dễ thương. Bức tượng người lính cầm súng trong tư thế thao diễn nghỉ, quả là đã và sẽ đứng đó ngàn năm. Cũng từ các anh KS/HSQ, chúng tôi biết sơ về chuyện học hành, tập luyện ở trường. Biết các anh đã trải qua 8 tuần, 9 tuần hoặc 10 tuần huấn luyện cam go, chúng tôi thật lòng ngưỡng mộ, và ước ao mình có đủ sức khỏe, can trường vượt qua mọi thử thách của khóa học để ngày nào đó cũng được như họ. Có một điều khiến chúng tôi cảm thấy rất nhẹ thở là hiện nay trường đã bỏ bài đi " dây tử thần ". Lúc chưa vô lính, cũng như lúc ở Quang Trung, nghe Đồng Đế là chúng tôi sợ một phần vì nghĩ đến "dây tử thần", nghe đâu khóa nào cũng có người chết khi thực hành bài đi dây tử thần nầy.
Trong khi chờ đợi quyết định của Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Quân Huấn, hằng ngày chúng tôi làm tạp dịch quanh doanh trại của mình, tu bổ các giao thông hào, tập thể dục, chạy đều bước nhiều vòng quanh Vũ Đình Trường, và vui vẻ nhứt là xế chiều nào cũng được hướng dẫn ra tắm biển. Bạn nào ngại bơi lội thì ngồi trên bãi ngắm trời mây non nước.
Phần chúng tôi được sắp xếp thành tiểu đoàn, danh hiệu là Tiểu Đoàn Lý Thường Kiệt, về sau đổi thành Tiểu Đoàn 1 SVSQ, do một vị Đại Úy chỉ huy. Tiểu đoàn 1 SVSQ có 4 đại đội, danh hiệu 335, 336, 337 và 338, do 4 vị Trung Úy nắm các chức vụ Đại Đội Trưởng. Tôi còn nhớ tên 3 vị ĐĐT lúc đó gồm Trung Úy Xuân, Trung Úy Huân, và Trung Úy Lê Văn Lượm. Tôi nằm trong đại đội 338 của Trung Úy Lượm. Một thời gian ngắn sau đó, 2 trong số 4 vị ĐĐT là Trung Úy Xuân và Trung Úy Huân được thăng cấp Đại Úy, cùng lúc vị Tiểu Đoàn Trưởng được thăng cấp Thiếu Tá.
Những tuần huấn luyện cam go bắt đầu, mà ở Trường gọi là những tuần huấn nhục, tôi không nhớ là 4 hay 8 tuần. Bước ra khỏi buồng của đại đội, từ 2 người trở lên là phải có một người đếm nhịp để cùng chạy đều bước. Học ở giảng đường hay từ bãi tập về, trước khi vào phòng ăn là cả đại đội phải chạy ngày đầu vài ba vòng, tăng dần lên đến 10 vòng quanh Vũ Đình Trường với đầy đủ súng đạn, nón sắt, vừa chạy đều bước, vừa hát vang rân. Khi bắt đầu tăng số vòng chạy lên, một ít người không chịu nổi, xỉu, được đưa ra ngoài nghỉ. Tôi nhiều lúc tưởng đã bỏ cuộc, chân tay rả rời, mệt tưởng chừng đứt hơi, nhưng may cũng vượt qua được. Vừa chạy hồng hộc như thế, mô hôi mồ kê nhễ nhại, thế mà vào phòng ăn ai nấy xơi ngon lành 4, 5 chén cơm với thực đơn gần như đều đặn là buổi trưa cá chiên nước mắm tỏi ớt, canh cải, bữa chiều thịt bò xào, cải nấu canh. Chúng tôi nghe nói là các cấp chỉ huy ở Trường rất quan tâm đến bữa ăn của khóa sinh hạ sĩ quan cũng như sinh viên sĩ quan, thường bất ngờ vào phòng ăn kiểm thực nên nhờ vậy, bữa ăn của chúng tôi tuy đạm bạc nhưng không bao giờ gặp cảnh thịt thối, cá ươn. Đặc biệt món nước mắm, nêm nếm cũng vừa miệng. Dù vậy, mỗi bữa ăn, chúng tôi bốn anh em một mâm vẫn thường mua thêm khi một hộp thịt, khi hộp cá, thêm một hộp Kim Chi để ăn kèm. Đồ hộp gồm thức ăn, uống kể cả thuốc hút và các thứ linh tinh khác, vừa của Mỹ, vừa của Đại Hàn, lúc đó đầy dẫy ở Nha Trang, thứ nào cũng rẻ.
Trong khúc quân hành "Phù Hiệu Trường Hạ Sĩ Quan" có câu "lò luyện thép tân tiến nhứt Việt Nam" đã nói lên được tính chất cam go, gian khổ mà một Khóa Sinh HSQ. hay SVSQ phải trải qua khi được đào luyện tại Trường Đồng Đế. Những bài học lý thuyết ở giảng đường trang bị cho các SVSQ những kiến thức quân sự căn bản về vũ khí, tác xạ, đội hình, chiến thuật cấp Tiểu đội, Trung đội, Đại đội, phối hợp tác chiến với pháo binh, thiết giáp, không quân, hải quân, tiếp liệu, yểm trợ, địa hình, tác phong, lãnh đạo, chỉ huy, chiến tranh chính trị, lễ nghi quân cách...Những bài học đó đã trở nên vô cùng sinh động khi được diễn lại ngoài bãi tập. Những bài tấn
công lên đồi, phản phục kích xe, bò dưới hỏa lực là những bài học để lại nhiều dấu ấn trong lòng các SVSQ vì hầu như bài nào cũng có người mệt đến xỉu. Song song với khóa 2/68 SVSQ là khóa 2/68 Hạ Sĩ Quan. Không may cho các bạn khóa HSQ là trong bài phản phục kích xe có 2 người bị một chiếc xe cơ giới của Công Binh cán chết. Vì phải nhảy xuống xe, trèo lên xe nhiều lần, hai khóa sinh quá mệt, chưa kịp rời khỏi mặt đường để tiến vào tuyến chiến đấu, thì bị xe Công Binh trờ tới cán phải. Thông thường, khi đang diễn tập hay huấn luyện thì ở 2 đầu đường có cắm cờ đỏ để ngăn không cho xe cộ lưu thông. Đoạn đường nầy lúc bấy giờ vẫn còn là con đường đất kéo dài từ thôn Đường Đệ ra đèo Rù Rì, được một đơn vị Công Binh phụ trách để làm thành đường trải đá, tráng nhựa. Người tài xế lái chiếc xe cơ giới khi biết có chuyện chẳng lành vội nhảy xuống xe, mọi người mới biết anh ta trong tình trạng có rượu trong người ( DUI ). Huấn luyện viên của bài phản phục kích xe hôm đó là Trung Úy Tánh, quá tức giận đã cho người tài xế bê bối nầy mấy cái bạt tai. Nội vụ được đưa ra tòa, nhưng cả quân trường xôn xao, đau đớn vì chuyện không may nầy.
Các bài Tiểu Đội Tấn Công Lên Đồi hay Trung Đội Tấn Công Lên Đồi cũng là những bài diễn tập rất sôi nổi và rất nhiều mồ hôi đổ xuống. Nhiều người bị xỉu vì ra nhiều mồ hôi và uống quá nhiều nước trong mấy bài nầy. Mục tiêu nằm trên đồi tuy không cao lắm, nhưng SVSQ thực tập phải diễn đi diễn lại nhiều lần cho đúng quy cách nên ai nấy mệt lả người. Lần chót, khi đến tuyến tấn công, còn phải bắn cho hết một gắp đạn thiệt 7 viên khi mắt đã mờ đi và cay xè vì mồ hôi. Trung đội nào khi xong bài tập của mình, trong khi ngồi nghỉ, được phép thưởng thức mấy bao nước nhãn nhục có đá lạnh do các binh sĩ cơ hữu của Trường mang đến bán, thiệt là ngon tuyệt.
Nhờ khu vực huấn luyện của Trường đều nằm gần bờ biển nên dù tập luyện có mệt nhọc cách nào, chỉ cần ngồi nghỉ 5, 10 phút là đã thấy khỏe người lại. Việc mau lại sức nầy một phần do tuổi trẻ, một phần cũng do đã trải qua nhiều thời gian tập luyện thể lực như chạy bộ thường xuyên, đi bộ đường dài qua đồi, qua dốc, quả những thửa ruộng sình lầy. Khi Tiểu Đoàn 1 SVSQ, tức toàn khóa 2/68 hành quân Chinh Phục Hòn Khô để tối hôm đó làm lễ gắn Alpha, Đại Đội 338 của chúng tôi vừa có một Chuẩn Úy khóa 26 ( hay 27? ) mới ra trường về làm cán bộ Trung Đội Trưởng của Đại Đội. Ông chỉ đeo trên người khẩu súng Colt 45 và cái ba-lô lép xẹp nhưng đi chưa được nửa đường thì đã mệt lắm, phải gửi cái ba-lô cho SVSQ đeo hộ. Ông cho biết vì tình hình an ninh không cho phép, nên khóa học của ông ở Trường Bộ Binh Thủ Đức không được lội bãi nhiều như ở đây, vì vậy sức chịu đựng kém. Chúng tôi rất thông cảm người đàn anh dễ thương nầy, trong lòng thì ngầm tự hào mình đã được tôi luyện ở lò luyện thép, đâu phải thứ thường. Ra trường về đơn vị, lội tới đâu cũng không ngán.
Song song với các bài học lý thuyết, các bài thực tập, đêm đêm, các đại đội chia nhau đi "ứng chiến" hoặc phòng thủ bên trong hoặc bên ngoài Trường. Đóng quân phòng thủ đêm ở Thôn Ba Làng An có lẽ vui nhứt. Đơn vị nằm giữa một mặt là núi, một mặt là bờ biển, mà cặp theo bờ biển là khu dân cư của thôn. Sau khi dựng lều, phân công gác, một số phe ta lẻn vào thôn ăn chè, ăn cháo, uống cà phê. Tổ của tôi 3 anh em chung một lều, gồm anh L., anh Đ. và tôi. Anh L. có máu hão ngọt, nên cứ đóng quân ở thôn Ba Làng An là anh ấy không bao giờ bỏ lỡ cơ hội lẻn ra các quán cà phê, chè, cháo này. Ăn chè, ăn cháo, cà phê cà pháo riết rồi ở lại ngủ với cô chủ quán luôn. Báo hại anh Đ.Đ. và tôi cứ phải gác thế cho anh ấy. Một đêm quá nửa khuya trên đường từ quán về chỗ đóng quân, anh L. bị chó cắn. Không nhớ anh đã khai thế nào mà không bị phạt, nhưng được đưa ra bệnh viện ngoài Nha Trang điều trị khoảng một tuần. Chứng nào tật nấy, khi nằm ở bệnh viện Nha Trang, anh L. lại làm quen với một cô làm ở câu lạc bộ. Sau nầy mỗi lần đi phép, anh L. xé lẻ đi thăm bạn gái, chứ không còn đi dạo phố Nha Trang với tôi và anh Đ.Đ. như trước. Dạo phố Nha Trang vào ngày Chủ Nhựt mới thấy ở đây có đủ mặt các quân trường, nào Trường HSQ, nào Không Quân, nào Hải Quân. Đông đảo nhứt có lẽ là Đồng Đế vì vừa có khóa sinh HSQ, lại có SVSQ. Trông đen đúa khỏe mạnh nhứt cũng là môn đồ của Trường HSQ. Ngược lại, các bộ tiểu lễ đi phép của Không Quân và Hải Quân thì rất đẹp, rất mướt. Có một lần mấy anh em chúng tôi bước vào một quán nước, trong quán có mấy SVSQ Không Quân đang cười nói ồn ào, thấy chúng tôi, bỗng nhiên họ như sựng lại, sửa lại tư thế, ngồi ngay ngắn, không còn oang oang như trước. Tôi tự hỏi, chắc anh em tụi tôi trông có vẻ " ngầu " lắm nên các bạn bên Trường Không Quân nầy mới tỏ ra e dè như vậy.
Chủ tọa Lễ Mãn Khóa Khóa 2/68 SQTB Đồng Đế là Trung Tướng Vĩnh Lộc, lúc đó đang giữ chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn. Có chuyện vui vui là hôm đó có lẽ vì xúc động quá, trong bài diễn văn khai mạc, Đại Tá Lê Văn Nhựt đã 2 lần gọi Tướng Vĩnh Lộc là Trung Tá. Không biết là sau buổi lễ, Đại Tá Nhựt có bị khiển trách? Hay được cười xòa thông cảm? Khóa 2/68 SQTB Đồng Đế được đặt tên là khóa An Dân, vế thứ hai của của câu “ Bảo Quốc An Dân “, anh em chúng tôi gọi đùa là khóa Bảo An Dân Vệ. Thực tế thì khóa nầy, khoảng 2/3 tân sĩ quan được biệt phái về Địa Phương Quân ( 3 ), số còn lại về các sư đoàn bộ binh và một số ít được chọn về các ngành như Tổng Cục Tiếp Vận, Tổng Cục Quân Huấn, vài người về Quân Cảnh, Hải Quân. Đại đội chúng tôi lúc ấy có người bạn tên Cường rất mong được về Lực Lượng Đặc Biệt, nhưng tiếc cho bạn ấy và một số bạn khác nữa muốn về Nhảy Dù, TQLC đã không được toại nguyện vì khóa 2/68 Đồng Đế chỉ có 20 người được chọn về Biệt Động Quân, không có các binh chủng khác.
Kể từ khóa 1/68, bộ đồ đại lễ của SVSQ tốt nghiệp được cắt may theo kiểu mới, áo ngắn ngang rún, phải thắt một dây vải to bản gần 2 tấc ngang bụng nên trông người nào cũng có vẻ lùn lại, anh em chúng tôi không thích lắm, nên sau khi chụp hình lưu niệm mãn khóa xong là chúng tôi về phòng thay ngay vào người bộ quân phục tác chiến với cặp lon chuẩn úy mới tinh trên cổ áo. Bạn nào về BĐQ thì cũng đã có chiếc mũ nâu chụp lên đầu ngạo nghễ oai phong. Những ngày sau, trong khi chờ máy bay đưa về Sài Gòn, chúng tôi được phép ra thành phố Nha Trang dạo chơi lần chót và mua sắm một số quà kỷ niệm và những món ăn đặc sản của Nha Trang về biếu thân nhân. Hầu như anh em nào ít lắm cũng có vài ký lô khô mực. Lúc lên máy bay về Sài Gòn, lạng quạng thế nào, tôi lại vác lộn túi quân trang của một người bạn cùng đại đội. Máy bay cất cánh rồi, nhìn lại túi quân trang không phải tên mình, mà tên Nguyễn Phong Lưu. Đến phi trường Tân Sơn Nhứt rồi, mọi người nhanh chóng tìm phương tiện về nhà, riêng tôi cứ đứng đó ngóng trông bạn Nguyễn Phong Lưu. Tôi đi chuyến bay đầu, bạn Lưu lại đi chuyến chót, gặp nhau đã 5, 6 giờ chiều. Nhận lại được túi quân trang của mình là vui rồi, Lưu không cằn nhằn gì tôi cả, tánh bạn ấy thật dễ thương. Nguyễn Phong Lưu về Sư Đoàn 21 Bộ Binh, không đầy một năm sau tôi nghe bạn đã hy sinh ngoài chiến trường, nghe thật buồn dù rằng lúc ở chung đại đội ngoài Đồng Đế hai đứa tôi không thân nhau lắm.
Năm 1982, lúc bị chuyển về trại giam Xuân Lộc Z30A, phân trại C, nghe nói tôi xuất thân khóa 2/68 Đồng Đế Nha Trang, một vị Thiếu Tá tên P.N.Th. ở cùng buồng cho tôi biết lúc xảy ra biến cố khóa 2/68 hồi cuối giai đoạn 1 ở Quang Trung, ông ấy là Thiếu Úy đang làm việc ở Cục An Ninh Quân Đội, được cử đến để điều tra sự vụ. Thiếu Tá Th. cho biết rằng, Tổng cục Quân Huấn nhận được văn thư từ Bộ Tổng Tham mưu, vì nhu cầu đào tạo sĩ quan trừ bị gia tăng nên từ nay song song với Trường Bộ Binh Thủ Đức, sẽ có phân nửa được huấn luyện ở Đồng Đế. Văn thư viết không rõ ràng sao đó khiến các giới chức ở Tổng Cục Quân Huấn hiểu lầm là phải đánh rớt 50% cho theo học khóa hạ sĩ quan. Tôi thấy điều Thiếu Tá Th. nói có vẻ không hợp lý. Khi gặp một văn thư tối nghĩa, các giới chức ở TCQH phải hỏi lại Bộ TTM cho rõ ràng trước khi thi hành, chứ sao lại làm sai như vậy. Hơn nữa, khi phổ biến kế hoạch đến các quân trường, trung tâm huấn luyện, TCQH cũng phải có bản sao gửi về Bộ TTM để "kính tường", Bộ TTM thấy sai sao không điều chỉnh ngay? Dù sao thì chuyện khóa 2/68 lúc đầu có phân nửa bị đánh rớt để theo học khóa HSQ, sau đó lại được điều chỉnh cho học khóa SQ đối với tôi vẫn còn là một nghi vấn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Việc bị đánh rớt nầy là có thật, vì trong bản Tướng Mạo Quân Vụ do Phòng Tổng Quản Trị, TK. Kiến Hòa cấp cho tôi vào năm 1972 – hiện tôi còn giữ bản sao - có ghi rõ:
“ 01-07-1968/ rot phan can ban quan su duoc thuyen chuyen đen Truong HSQ do LTC so 293/PNV/KS/I ngay 29-06-1968.”
“Duoc chuyen tiep thu huan giai doan 2 khoa 2/68 DBSQ/TB do bang dinh chinh so 327/PNV/KS/I ngay 18-07-1968 cua Trung Tam Huan Luyen Quang Trung.”
“22-07-1968/ Theo hoc khoa 2/68 SVSQ/TB khoa hoc khai giang ngay 22-07-1968”
Các bạn đồng môn thụ huấn ở Đồng Đế năm 1968 có thể biết chuyện nầy, nhưng các bạn ở các khóa sau chắc không nghe nói đến bao giờ. Tôi xin đưa vấn đề nầy ra để cùng chia sẻ với các bạn, cũng nhân bài viết nầy, được nghe các vị Niên Trưởng, Huynh Trưởng lúc đó là cán bộ ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, Trường Hạ Sĩ Quan QL/VNCH, hoặc các vị ở Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Quân Huấn lên tiếng, giúp giải tỏa thắc mắc chung cho số anh em khóa 2/68 SQTB Đồng Đế.
Chú thích:
1. Một người bạn xuất thân khóa 8/68 cho tôi biết sau hiệp định Paris 1973, thì Đồng Đế ngưng huấn luyện Sĩ Quan Trừ Bị. Gần đây, qua trang Web của Đồng Đế, tôi được biết có khóa 5B/73. Đây có phải là khóa SQTB cuối cùng của trường Đồng Đế, hay vẫn còn vài khóa nữa? Vị nào biết rõ, xin làm sáng tỏ.
Friday, November 2, 2007
Nhung Nguoi Ban Da Nam Xuong Tren Que Huong
Minh Vủ K10B/72
Hôm nay, ghi lại những dòng chữ nầy để tưỡng nhớ đến các bạn, những người trai đả dâng trọn tuổi thanh xuân của mình vì đại nghỉa, để góp phần bảo vệ sự sống còn cho miền Nam tự do chống lại cuồng vọng xâm lăng của Cộng sản .Các bạn đả vỉnh viển ở lại “Vùng đất cuối “ của quê hương yêu dấu, để laị trong lòng những người thân yêu, bạn bè niềm thương nhớ không nguôi .
Cố Thiếu úy Tô khánh Ðức (ÐÐ 764/TÐ 11 Ðồng Ðế Nha trang)
Ðại đội phó Ðại đôi 3, Tiểu đòan 487/ÐPQ Tiểu khu Bạc Liêu, tử trận tháng
tháng 6/74 trong cuộc hành quân thuộc địa phận quận Giá Rai, Tỉnh Bạc Liêu .
Cố Thiếu úy Từ lam Sơn (ÐÐ 765/TÐ 11 Ðồng Ðế Nha trang)
Trung đội trưởng, Tiểu đoàn 411/ÐPQ Tiểu khu Bạc Liêu, tử trận tháng 11/73
tại Cà mau .
Cố Thiếu úy Nguyển văn Mảnh (ÐÐ 765/TÐ 11 Ðồng Ðế Nha Trang)
Trung đội trưởng, thuộc Tiểu đòan 487/ÐPQ Tiểu khu Bạc Liêu
Hy sinh trong cuộc hành quân ở gần cửa Mỷ Thanh, quận Hòa Tú ,tỉnh Sóc Trăng
tháng 5/74 .
Cố Trung úy Trương duy Sơn (ÐÐ764/TÐ 11 Ðồng Ðế Nha Trang ?)
Ðại đội trưởng Ðại đội 3, Tiểu đoàn 488/ÐPQ, Tiểu khu Bạc Liêu
Ngày 28/4/75, Sơn đả chỉ huy Ðại đội đánh nhau với VC đến viên đạn cuối cùng
và đả hy sinh .
….và còn nhiều những bạn khác xuất thân từ cùng quân tường Ðồng Ðế đả hy sinh mà tôi không nhớ rỏ tên .
Sau khi nhận Sự vụ lệnh về trình diện đơn vị thuộc Tiểu khu Bạc Liêu, chúng tôi một nhóm 6 tân Chuẩn úy, (Tô khánh Ðức, Từ lam Sơn, Trương duy Sơn, Nguyện văn Dủ, Nguyển văn Mảnh và tôi) quân phục còn vương mùi quân trường, chưa thắm chút bụi đường chinh chiến gặp nhau tại vùng đất xa lạ “Bạc Liêu nắng bụi mưa bùn” gần cuối dảy đất quê hương yêu dấu.. Trong thời gian còn chờ bổ nhậm đi đơn vị, ngày nào củng tập hợp rủ nhau ..tác chiến trong thành phố ! Sáng sáng đi “hành quân” ở các quán café dọc theo phố chợ, trưa thì hành quân nơi các quán bán cơm bình dân, tối thì hành quân nơi vùng có đặt các xe bánh sinh tố …, hoặc vào các quán nhậu kéo vài chai 33, ngồi nói chuyện trời trăng mây nước với nhau.., rồi kéo nhau đi tìm ..” đặc sản” địa phương thử cho biết .
Thị xả Bạc Liêu chỉ có 2 con đường chính được nhiều người biết đến, một tên đường Trương vỉnh Ký, là phố xá có những cửa hàng buôn bán mà chủ nhân đa số là người Việt lai Tàu (Triều Châu), bởi vậy mới có câu vè :
“Bạc Liêu là xứ quê mùa
Dưới sông cá Trốt, trên bờ Triều Châu”
Sông nước Bạc Liêu lơ lớ pha trộn giửa nước biển tràn vào và nước ngọt có phèn từ các đồng ruộng chảy ra mang đậm bùn sình phù sa, thích hợp cho loại các Trốt và cá Kèo chọn làm vùng đất hứa, cá đực cá cái hò hẹn rủ nhau xây tổ uyên ương, dựng túp liều lý tưởng sinh con đẻ cái đầy đàng . Ðể giải quyết nạn “nhân mản” của các loại cá nầy, dân địa phương đả nghỉ ra món “cá Trốt kho tiêu” và “cá Kèo kho xả ớt”, rất hấp dẩn ăn với cơm .
Còn con đường kia tên đại lộ Hòa Bình, là đường dẩn vào Thị xả nối liền với liên tỉnh lộ và Quốc lộ 4 đi Cà mau và chạy dài qua cầu cầu bắt ngang sông Bạc Liêu ra tới biển, nơi đặt BCH Tiểu khu và một số cơ quan hành chánh của Tỉnh. Một số các con đường khác nhỏ hẹp hơn là khu dân cư không được tu sửa cho tới nơi tới chốn, mặt đường loang lổ, đất cát hổn độn nắng thì bụi bặm, mưa thì bùn sình trơn trợt .
Thị xả Bạc Liêu có nhiều nhà hàng ăn uống và quán nhậu .Dân Bạc Liêu chiếm giải nhì trên tòan quốc về số lượng beer tiêu thụ hàng năm, đứng đầu là dân tỉnh Kiên Giang-Rạch Giá . Ở đây gì gì củng nhậu…Ðám cưới, đám giổ, vợ đẻ, đám đầy tháng nhậu thì củng phải, vì là tiệc vui, đằng nầy đám ma củng nhậu, vợ hư thai củng nhậu .., mà bị Ðào đá hay vợ chết lại còn nhậu dử hơn ..! không biết vì buồn hay vì …mừng . Dân Bạc Liêu tính tình hiền hòa chất phát, rất hiếu khách và văn nghệ nghêu ngao, đàn ca tài tử qua những bài ca, câu hát vọng cổ lai láng tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa . Ông Sáu Lầu, ông Tổ của nghành Vọng cổ là người xứ sở ở đây .Bạc Liêu còn là một địa danh được nhiều người biết đến qua những câu chuyện huyền thoại ngắn dài của một thời “Công tử Bạc Liêu”, tiền rừng bạc biển, ăn chơi hào phóng .
Sau gần hơn một tuần lể rong chơi thăm dân cho biết sự tình, chúng tôi trở lại trình diện Phòng 1 Tiểu khu và nhận Sự vụ lệnh ra Tiểu đoàn .
Trương duy Sơn đi TÐ 488, Từ lam Sơn đi TÐ 411, Tô khánh Ðức, Nguyển văn Dủ, Nguyển văn Mảnh và tôi đi TÐ 487 . Chia tay nhau kể từ bửa đó, mổi người đi mổi ngà, chúng tôi chính thức bước vào cuộc chiến ,ít có dịp gặp lại …
Riêng Từ lam Sơn thì bịnh rịnh phải từ giả người yêu .Cuộc tình chớp nhoáng của cô gái xứ Bạc Liêu với anh chuẩn úy mới ra trường Từ lam Sơn sau mấy bửa đi uống sinh tố tưởng là yêu đường văn nghệ mà hóa ra sự thật .Nàng đả đổ ra cả lít nước mắt lúc tiển chàng ra biên ải…, nếu như mang để trên bàn cân …củng nặng ký lắm! Chàng lính đa tình Từ lam Sơn củng bước.. từng bước từng âm thầm mà nghe nặng triểu không phải vì chiếc ba lô đeo trên vai, mà vì mối tình nặng ký đang mang trong lòng .Từ lam Sơn hứa hẹn lần về phép đầu tiên sẻ về Sàigòn dẩn cha mẹ xuống Bạc Liêu làm lể đính hôn với người yêu . Nhưng Sơn đả không giử tròn lời hứa với người yêu ..! Sơn đả trở về nằm trong “hòm gổ cài hoa”, khiến cho tan nát cỏi lòng người con gái xứ Bạc, chưa thành thân mà đả thành cô phụ . Chuẩn úy Từ lam Sơn đả lên Cố Thiếu úy trước bạn bè !
Nguyển văn Dũ nét mặt lầm lì trông ..”ngầu” , đặc biệt là nốc rượu đế ngọt sớt và thỉnh thoảng xài tiếng “Ðức” nghe nhuyển nhừ …, cho nên sau khi trình diện BCH/TÐ được Tiểu đoàn trưởng đưa xuống đại đội cho nắm Trung đội trưởng liền, kế đến là Nguyển văn Mảnh, ai tới đâu Mảnh củng theo tới đó ..,còn tôi với Tô khánh Ðức mổi thằng chỉ thử có nửa ly rượu đế (ly uống café đá), phút chốc đả lăn ra ngủ khò chả biết trời đất chi hết và còn hơi …ngại miệng sổ tiếng Ðức với lính tráng, cho nên được Tiểu đoàn trưởng cho đi theo BCH/TÐ để ..học nghề, học nói thêm trước khi cho xuống núi . Ông Tiểu đoàn trưởng phán cho 2 thằng một câu : “Lính tác chiến phải biết uống rượu, phải chưởi thề .., không biết uống rượu, không chưởi thề thì làm sao mà nắm quân được .”
TÐT cấp cho một thằng em lính quảy ba lô đi theo “hầu hạ” cơm nước cho 2 ông tân quan . Anh lính nầy còn trẻ tuổi, tháo vác lanh lẹ vô cùng, mổi lần dừng quân tìm được gà, vịt, chim, cá là anh trổ tài biến hóa chỉ trong chốc lác là 2 ông quan “sửa” có thức ăn khai vị lai rai . Chẳng hạn như có được một con gà hay con vịt, anh nhổ lông liền tù tì ngay giửa cái ức chạy dài xuống bụng, mổ lấy bộ lòng xào trước dọn ra .Trong khi tôi với Ðức nhâm nhi đầu lòng thì anh lui cui vo gạo, bắt nồi cơm lên bếp, làm sạch lông còn lại và chặt thịt nấu món khác.
Nhớ lại những ngày tháng làm lính mới thấy nó dể thương làm sao . Ði hành quân lội bộ cả ngày, đi xuyên qua những cách đồng, những khu rừng mắm loáng nước mệt muốn …bá thở, lại còn sợ đỉa đeo, tôi với Tô khánh Ðức không lo nhìn trước sau đề phòng VC phục kích mà 2 đứa cứ lo bị đỉa đeo .Tối dừng quân tôi với Ðức tìm cây tấn chung quanh làm cái khung giường ngủ, đoạn trải tấm nylon xuống mặt đất, vì mặt đất lép xép nước , xong mới tìm chổ giăng mùng (mắc màn) vì muổi quá dử, lại đánh hơi “của lạ” cho nên kéo cả làng đến vây quanh . Ðả cái là khi ngả lưng trên mặt đẩt ẩm ướt mát rượi như là ngủ trong phòng có gắng máy lạnh . Sáng dậy sớm , sau khi dằn bụng vài chén cơm với cá kho, có khi với nước mắm bỏ vào một trái ớt dằm ra thật cay …,xong ra hè nhà cho vào bao từ thêm vài gáo nước lu lạnh ngắt nửa là sẳn sàng ..mở máy chạy cả ngày .
“Mùa hè năm nay anh sẽ đưa em rời phố chợ đôi ngày Qua miền xa mà nghe rừng thiêng gọi lá Tiếng nỉ tiếng non khi chiến trường nằm im thở khói Đứa bé nhìn cha đang chờ giặc dưới giao thông hào Tìm về xa xôi em sẽ thương những vùng đất lở sông bồi Bạn bè em giờ đây người sương người gió Chí cả trót mang nên chẳng cần về thăm trường cũ Có đứa từ lâu nay vẫn còn đi biệt chưa về Quê hương đâu nắng hạ cũng buồn Nước sông ngăn đôi sơn hà còn gì em còn gì đâu Mùa hạ qua mau đi nữa đi anh trên con đường quê hương mịt mùng Thương những chiều nắng dọi bờ sông Mùa hè năm nay anh sẽ ru em tròn giấc ngủ trên ngàn Em nằm mê mà nghe niềm tâm sự réo Trăm họ ước mơ mơ mái nhà chiều khói lửa ấm Lứa tuổi tròn hai mươi tìm lại những đêm ân tình Mùa hè năm nay anh sẽ đưa em vòng khắp cả hý trường Nghe người ca bài ca lời thương lời nhớ Chén tiễn chén đưa cho rã rời một đêm hẹn ước Rước áo tìm vui nơi chiến trường có bạn có thù Thương em đi gót nhẹ chân mềm Bước trên quê hương điêu tàn Lặng nhìn em bồi hồi thêm Dù hạ qua mau anh vẫn đưa em cuối con đường quê hương bùn mềm Thương những người giết giặc ngày đêm ….”
Tôi với Ðức những ngày không đi hành quân, ra ngồi trên lô cốt của một căn cứ đóng quân cạnh một bờ sông Gành hào nhìn nước chảy cuồng cuộn , mở chiếc radio nhỏ nghe bản nhạc “Ðưa em vào Hạ” của nhạc sỉ Trầm tử Thiêng mà lòng buồn rưng rưng. Bản nhạc nầy tôi đả nhiều lần được nghe lúc còn ở thành phố, nhưng chưa có lúc nào mà tôi cảm thấy xúc động, thấm thía và hợp với tâm trạng, hoàn cảnh của tôi lúc nầy. Nay tôi đang ở “cuối con đường quê hương bùn mền”, tôi mới thấy ..”thương những người giết giặc ngày đêm”, những người chiến sỉ năm tháng dầm mình chốn bùn sình lầy lội, với những cánh rừng mắm bao bọc xanh thẳm một màu xanh của lá mà tôi đang hiện diện chia sẻ với họ. Chắc hẳn các người Lính ở đây và các bạn của tôi củng có cùng tâm trạng như tôi,
“Trăm họ ước mơ mơ mái nhà chiều khói lửa ấm Lứa tuổi tròn hai mươi tìm lại những đêm ân tình “…..
mơ ước có được một ngày tàn chinh chiến được trở về với mái ấm gia đình, bên cạnh những người thân thương của mình .
Từ lúc tôi, Ðức, Dủ và Mảnh được bổ xung ra đại đội, 4 đứa ít có dịp gặp nhau trừ những lúc hành quân, vì Tiểu đoàn chia các đại đội đóng rải rác trong khu vực phạm vi trách nhiệm . Một thời gian sau, tôi được trở về BCH/TÐ làm sỉ quan phụ tá hành quân .
Tô khánh Ðức hy sinh trong một cuộc hành quân thuộc địa phận quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu .Hôm đó đại đội phó Tô khánh Ðức thay đại đội trưởng dẩn đại đội đi hành quân, người lính đi trước dẩm phải lựu đạn gài của VC, lựu đạn nổ văng miểng phang vô màn tang, Ðức chết liền tại chổ . Tôi là người bạn K10B/72 độc nhất đến được để đưa tiển Ðức đến nơi an nghỉ cuối cùng, được ném một nấm đất khô và một cành hoa thương tiếc lên quan tài của Ðức . Xong rồi một đời trai ngắn ngủi , bao nhiêu ước vọng chưa thành Tô khánh Ðức đả tức tưởi mang theo mình xuống huyệt lạnh . Chỉ có những giọt nước mắt của cha mẹ, anh em, bạn bè và chiến hửu thương tiếc . Có lần Ðức tâm sự với tôi có để ý thương một cô gái, nhưng chưa dám thổ lộ vì cuộc đời lính ngày đây mai đó ..., cho nên chỉ yêu để mà yêu thôi .
Nguyển văn Mảnh hy sinh trong cuộc hành quân ở gần cửa Mỷ Thanh, quận Hòa Tú ,tỉnh Sóc Trăng tháng 5/74 . Gia đình của Mảnh từ Sàigòn xuống đưa quan tài của Mảnh về lại Sàigon .Củng giống như Từ lam Sơn, cố thiếu úy Nguyển văn Mảnh đả trở về thành phố thân yêu nằm trong “hòm gổ cài hoa” . Tôi không có mặt để đưa đưa tiển Mảnh lần cuối.
Tôi được đổi về một đơn vị không tác chiến ở ngoại ô thị xả sau tháng 2/75.
Những ngày đất nước thoi thớp thở ra khói, tình hình căng thẳng, các đơn vị ứng chiến 100%, lúc nào súng đạn củng sẳn sàng gần cuối tháng 4/75 .Trên đường tôi đi đến chổ làm việc hằng ngày đi ngang qua Nhà Vỉnh Biệt, chổ để xác các người lính chết trận chờ thân nhân ở xa tới nhận xác mang đi an táng . Tôi để ý thấy một quan tài phủ lá quốc kỳ VN , một mình quạnh quẻ chưa có thân nhân đến nhận, vì lúc đó tình hình căng thẳng, đường xá cầu cống bị ngăn trở . Tò mò tôi vào hỏi thăm mới biết được người nằm trong quan tài phủ lá quốc kỳ là Cố trung úy Trương duy Sơn, đại đội trưởng đại đội 3, TÐ 488 . Tiểu đoàn của Sơn trách nhiệm áng ngử vòng đai của thị xả . Ðại đội trưởng Trương duy Sơn đả chỉ huy đại đội chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và đả hy sinh trong giờ phút cuối cùng của cuộc chiến, ngày 28/4/75 .
Một nén hương cho bạn Trương duy Sơn . Trong giờ phút loạn lạc, người đi kẻ ở, cầu mong hương hồn của bạn được vào cỏi bình yên . Ở nơi đó …có lẻ bạn sẻ gặp lại Tô khánh Ðức, Nguyển văn Mảnh và Từ Lam Sơn .
Nhung Nguoi Ban Da Nam Xuong Tren Que Huong
Minh Vủ K10B/72
Hôm nay, ghi lại những dòng chữ nầy để tưỡng nhớ đến các bạn, những người trai đả dâng trọn tuổi thanh xuân của mình vì đại nghỉa, để góp phần bảo vệ sự sống còn cho miền Nam tự do chống lại cuồng vọng xâm lăng của Cộng sản .Các bạn đả vỉnh viển ở lại “Vùng đất cuối “ của quê hương yêu dấu, để laị trong lòng những người thân yêu, bạn bè niềm thương nhớ không nguôi .
Cố Thiếu úy Tô khánh Ðức (ÐÐ 764/TÐ 11 Ðồng Ðế Nha trang)
Ðại đội phó Ðại đôi 3, Tiểu đòan 487/ÐPQ Tiểu khu Bạc Liêu, tử trận tháng
tháng 6/74 trong cuộc hành quân thuộc địa phận quận Giá Rai, Tỉnh Bạc Liêu .
Cố Thiếu úy Từ lam Sơn (ÐÐ 765/TÐ 11 Ðồng Ðế Nha trang)
Trung đội trưởng, Tiểu đoàn 411/ÐPQ Tiểu khu Bạc Liêu, tử trận tháng 11/73
tại Cà mau .
Cố Thiếu úy Nguyển văn Mảnh (ÐÐ 765/TÐ 11 Ðồng Ðế Nha Trang)
Trung đội trưởng, thuộc Tiểu đòan 487/ÐPQ Tiểu khu Bạc Liêu
Hy sinh trong cuộc hành quân ở gần cửa Mỷ Thanh, quận Hòa Tú ,tỉnh Sóc Trăng
tháng 5/74 .
Cố Trung úy Trương duy Sơn (ÐÐ764/TÐ 11 Ðồng Ðế Nha Trang ?)
Ðại đội trưởng Ðại đội 3, Tiểu đoàn 488/ÐPQ, Tiểu khu Bạc Liêu
Ngày 28/4/75, Sơn đả chỉ huy Ðại đội đánh nhau với VC đến viên đạn cuối cùng
và đả hy sinh .
….và còn nhiều những bạn khác xuất thân từ cùng quân tường Ðồng Ðế đả hy sinh mà tôi không nhớ rỏ tên .
Sau khi nhận Sự vụ lệnh về trình diện đơn vị thuộc Tiểu khu Bạc Liêu, chúng tôi một nhóm 6 tân Chuẩn úy, (Tô khánh Ðức, Từ lam Sơn, Trương duy Sơn, Nguyện văn Dủ, Nguyển văn Mảnh và tôi) quân phục còn vương mùi quân trường, chưa thắm chút bụi đường chinh chiến gặp nhau tại vùng đất xa lạ “Bạc Liêu nắng bụi mưa bùn” gần cuối dảy đất quê hương yêu dấu.. Trong thời gian còn chờ bổ nhậm đi đơn vị, ngày nào củng tập hợp rủ nhau ..tác chiến trong thành phố ! Sáng sáng đi “hành quân” ở các quán café dọc theo phố chợ, trưa thì hành quân nơi các quán bán cơm bình dân, tối thì hành quân nơi vùng có đặt các xe bánh sinh tố …, hoặc vào các quán nhậu kéo vài chai 33, ngồi nói chuyện trời trăng mây nước với nhau.., rồi kéo nhau đi tìm ..” đặc sản” địa phương thử cho biết .
Thị xả Bạc Liêu chỉ có 2 con đường chính được nhiều người biết đến, một tên đường Trương vỉnh Ký, là phố xá có những cửa hàng buôn bán mà chủ nhân đa số là người Việt lai Tàu (Triều Châu), bởi vậy mới có câu vè :
“Bạc Liêu là xứ quê mùa
Dưới sông cá Trốt, trên bờ Triều Châu”
Sông nước Bạc Liêu lơ lớ pha trộn giửa nước biển tràn vào và nước ngọt có phèn từ các đồng ruộng chảy ra mang đậm bùn sình phù sa, thích hợp cho loại các Trốt và cá Kèo chọn làm vùng đất hứa, cá đực cá cái hò hẹn rủ nhau xây tổ uyên ương, dựng túp liều lý tưởng sinh con đẻ cái đầy đàng . Ðể giải quyết nạn “nhân mản” của các loại cá nầy, dân địa phương đả nghỉ ra món “cá Trốt kho tiêu” và “cá Kèo kho xả ớt”, rất hấp dẩn ăn với cơm .
Còn con đường kia tên đại lộ Hòa Bình, là đường dẩn vào Thị xả nối liền với liên tỉnh lộ và Quốc lộ 4 đi Cà mau và chạy dài qua cầu cầu bắt ngang sông Bạc Liêu ra tới biển, nơi đặt BCH Tiểu khu và một số cơ quan hành chánh của Tỉnh. Một số các con đường khác nhỏ hẹp hơn là khu dân cư không được tu sửa cho tới nơi tới chốn, mặt đường loang lổ, đất cát hổn độn nắng thì bụi bặm, mưa thì bùn sình trơn trợt .
Thị xả Bạc Liêu có nhiều nhà hàng ăn uống và quán nhậu .Dân Bạc Liêu chiếm giải nhì trên tòan quốc về số lượng beer tiêu thụ hàng năm, đứng đầu là dân tỉnh Kiên Giang-Rạch Giá . Ở đây gì gì củng nhậu…Ðám cưới, đám giổ, vợ đẻ, đám đầy tháng nhậu thì củng phải, vì là tiệc vui, đằng nầy đám ma củng nhậu, vợ hư thai củng nhậu .., mà bị Ðào đá hay vợ chết lại còn nhậu dử hơn ..! không biết vì buồn hay vì …mừng . Dân Bạc Liêu tính tình hiền hòa chất phát, rất hiếu khách và văn nghệ nghêu ngao, đàn ca tài tử qua những bài ca, câu hát vọng cổ lai láng tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa . Ông Sáu Lầu, ông Tổ của nghành Vọng cổ là người xứ sở ở đây .Bạc Liêu còn là một địa danh được nhiều người biết đến qua những câu chuyện huyền thoại ngắn dài của một thời “Công tử Bạc Liêu”, tiền rừng bạc biển, ăn chơi hào phóng .
Sau gần hơn một tuần lể rong chơi thăm dân cho biết sự tình, chúng tôi trở lại trình diện Phòng 1 Tiểu khu và nhận Sự vụ lệnh ra Tiểu đoàn .
Trương duy Sơn đi TÐ 488, Từ lam Sơn đi TÐ 411, Tô khánh Ðức, Nguyển văn Dủ, Nguyển văn Mảnh và tôi đi TÐ 487 . Chia tay nhau kể từ bửa đó, mổi người đi mổi ngà, chúng tôi chính thức bước vào cuộc chiến ,ít có dịp gặp lại …
Riêng Từ lam Sơn thì bịnh rịnh phải từ giả người yêu .Cuộc tình chớp nhoáng của cô gái xứ Bạc Liêu với anh chuẩn úy mới ra trường Từ lam Sơn sau mấy bửa đi uống sinh tố tưởng là yêu đường văn nghệ mà hóa ra sự thật .Nàng đả đổ ra cả lít nước mắt lúc tiển chàng ra biên ải…, nếu như mang để trên bàn cân …củng nặng ký lắm! Chàng lính đa tình Từ lam Sơn củng bước.. từng bước từng âm thầm mà nghe nặng triểu không phải vì chiếc ba lô đeo trên vai, mà vì mối tình nặng ký đang mang trong lòng .Từ lam Sơn hứa hẹn lần về phép đầu tiên sẻ về Sàigòn dẩn cha mẹ xuống Bạc Liêu làm lể đính hôn với người yêu . Nhưng Sơn đả không giử tròn lời hứa với người yêu ..! Sơn đả trở về nằm trong “hòm gổ cài hoa”, khiến cho tan nát cỏi lòng người con gái xứ Bạc, chưa thành thân mà đả thành cô phụ . Chuẩn úy Từ lam Sơn đả lên Cố Thiếu úy trước bạn bè !
Nguyển văn Dũ nét mặt lầm lì trông ..”ngầu” , đặc biệt là nốc rượu đế ngọt sớt và thỉnh thoảng xài tiếng “Ðức” nghe nhuyển nhừ …, cho nên sau khi trình diện BCH/TÐ được Tiểu đoàn trưởng đưa xuống đại đội cho nắm Trung đội trưởng liền, kế đến là Nguyển văn Mảnh, ai tới đâu Mảnh củng theo tới đó ..,còn tôi với Tô khánh Ðức mổi thằng chỉ thử có nửa ly rượu đế (ly uống café đá), phút chốc đả lăn ra ngủ khò chả biết trời đất chi hết và còn hơi …ngại miệng sổ tiếng Ðức với lính tráng, cho nên được Tiểu đoàn trưởng cho đi theo BCH/TÐ để ..học nghề, học nói thêm trước khi cho xuống núi . Ông Tiểu đoàn trưởng phán cho 2 thằng một câu : “Lính tác chiến phải biết uống rượu, phải chưởi thề .., không biết uống rượu, không chưởi thề thì làm sao mà nắm quân được .”
TÐT cấp cho một thằng em lính quảy ba lô đi theo “hầu hạ” cơm nước cho 2 ông tân quan . Anh lính nầy còn trẻ tuổi, tháo vác lanh lẹ vô cùng, mổi lần dừng quân tìm được gà, vịt, chim, cá là anh trổ tài biến hóa chỉ trong chốc lác là 2 ông quan “sửa” có thức ăn khai vị lai rai . Chẳng hạn như có được một con gà hay con vịt, anh nhổ lông liền tù tì ngay giửa cái ức chạy dài xuống bụng, mổ lấy bộ lòng xào trước dọn ra .Trong khi tôi với Ðức nhâm nhi đầu lòng thì anh lui cui vo gạo, bắt nồi cơm lên bếp, làm sạch lông còn lại và chặt thịt nấu món khác.
Nhớ lại những ngày tháng làm lính mới thấy nó dể thương làm sao . Ði hành quân lội bộ cả ngày, đi xuyên qua những cách đồng, những khu rừng mắm loáng nước mệt muốn …bá thở, lại còn sợ đỉa đeo, tôi với Tô khánh Ðức không lo nhìn trước sau đề phòng VC phục kích mà 2 đứa cứ lo bị đỉa đeo .Tối dừng quân tôi với Ðức tìm cây tấn chung quanh làm cái khung giường ngủ, đoạn trải tấm nylon xuống mặt đất, vì mặt đất lép xép nước , xong mới tìm chổ giăng mùng (mắc màn) vì muổi quá dử, lại đánh hơi “của lạ” cho nên kéo cả làng đến vây quanh . Ðả cái là khi ngả lưng trên mặt đẩt ẩm ướt mát rượi như là ngủ trong phòng có gắng máy lạnh . Sáng dậy sớm , sau khi dằn bụng vài chén cơm với cá kho, có khi với nước mắm bỏ vào một trái ớt dằm ra thật cay …,xong ra hè nhà cho vào bao từ thêm vài gáo nước lu lạnh ngắt nửa là sẳn sàng ..mở máy chạy cả ngày .
“Mùa hè năm nay anh sẽ đưa em rời phố chợ đôi ngày Qua miền xa mà nghe rừng thiêng gọi lá Tiếng nỉ tiếng non khi chiến trường nằm im thở khói Đứa bé nhìn cha đang chờ giặc dưới giao thông hào Tìm về xa xôi em sẽ thương những vùng đất lở sông bồi Bạn bè em giờ đây người sương người gió Chí cả trót mang nên chẳng cần về thăm trường cũ Có đứa từ lâu nay vẫn còn đi biệt chưa về Quê hương đâu nắng hạ cũng buồn Nước sông ngăn đôi sơn hà còn gì em còn gì đâu Mùa hạ qua mau đi nữa đi anh trên con đường quê hương mịt mùng Thương những chiều nắng dọi bờ sông Mùa hè năm nay anh sẽ ru em tròn giấc ngủ trên ngàn Em nằm mê mà nghe niềm tâm sự réo Trăm họ ước mơ mơ mái nhà chiều khói lửa ấm Lứa tuổi tròn hai mươi tìm lại những đêm ân tình Mùa hè năm nay anh sẽ đưa em vòng khắp cả hý trường Nghe người ca bài ca lời thương lời nhớ Chén tiễn chén đưa cho rã rời một đêm hẹn ước Rước áo tìm vui nơi chiến trường có bạn có thù Thương em đi gót nhẹ chân mềm Bước trên quê hương điêu tàn Lặng nhìn em bồi hồi thêm Dù hạ qua mau anh vẫn đưa em cuối con đường quê hương bùn mềm Thương những người giết giặc ngày đêm ….”
Tôi với Ðức những ngày không đi hành quân, ra ngồi trên lô cốt của một căn cứ đóng quân cạnh một bờ sông Gành hào nhìn nước chảy cuồng cuộn , mở chiếc radio nhỏ nghe bản nhạc “Ðưa em vào Hạ” của nhạc sỉ Trầm tử Thiêng mà lòng buồn rưng rưng. Bản nhạc nầy tôi đả nhiều lần được nghe lúc còn ở thành phố, nhưng chưa có lúc nào mà tôi cảm thấy xúc động, thấm thía và hợp với tâm trạng, hoàn cảnh của tôi lúc nầy. Nay tôi đang ở “cuối con đường quê hương bùn mền”, tôi mới thấy ..”thương những người giết giặc ngày đêm”, những người chiến sỉ năm tháng dầm mình chốn bùn sình lầy lội, với những cánh rừng mắm bao bọc xanh thẳm một màu xanh của lá mà tôi đang hiện diện chia sẻ với họ. Chắc hẳn các người Lính ở đây và các bạn của tôi củng có cùng tâm trạng như tôi,
“Trăm họ ước mơ mơ mái nhà chiều khói lửa ấm Lứa tuổi tròn hai mươi tìm lại những đêm ân tình “…..
mơ ước có được một ngày tàn chinh chiến được trở về với mái ấm gia đình, bên cạnh những người thân thương của mình .
Từ lúc tôi, Ðức, Dủ và Mảnh được bổ xung ra đại đội, 4 đứa ít có dịp gặp nhau trừ những lúc hành quân, vì Tiểu đoàn chia các đại đội đóng rải rác trong khu vực phạm vi trách nhiệm . Một thời gian sau, tôi được trở về BCH/TÐ làm sỉ quan phụ tá hành quân .
Tô khánh Ðức hy sinh trong một cuộc hành quân thuộc địa phận quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu .Hôm đó đại đội phó Tô khánh Ðức thay đại đội trưởng dẩn đại đội đi hành quân, người lính đi trước dẩm phải lựu đạn gài của VC, lựu đạn nổ văng miểng phang vô màn tang, Ðức chết liền tại chổ . Tôi là người bạn K10B/72 độc nhất đến được để đưa tiển Ðức đến nơi an nghỉ cuối cùng, được ném một nấm đất khô và một cành hoa thương tiếc lên quan tài của Ðức . Xong rồi một đời trai ngắn ngủi , bao nhiêu ước vọng chưa thành Tô khánh Ðức đả tức tưởi mang theo mình xuống huyệt lạnh . Chỉ có những giọt nước mắt của cha mẹ, anh em, bạn bè và chiến hửu thương tiếc . Có lần Ðức tâm sự với tôi có để ý thương một cô gái, nhưng chưa dám thổ lộ vì cuộc đời lính ngày đây mai đó ..., cho nên chỉ yêu để mà yêu thôi .
Nguyển văn Mảnh hy sinh trong cuộc hành quân ở gần cửa Mỷ Thanh, quận Hòa Tú ,tỉnh Sóc Trăng tháng 5/74 . Gia đình của Mảnh từ Sàigòn xuống đưa quan tài của Mảnh về lại Sàigon .Củng giống như Từ lam Sơn, cố thiếu úy Nguyển văn Mảnh đả trở về thành phố thân yêu nằm trong “hòm gổ cài hoa” . Tôi không có mặt để đưa đưa tiển Mảnh lần cuối.
Tôi được đổi về một đơn vị không tác chiến ở ngoại ô thị xả sau tháng 2/75.
Những ngày đất nước thoi thớp thở ra khói, tình hình căng thẳng, các đơn vị ứng chiến 100%, lúc nào súng đạn củng sẳn sàng gần cuối tháng 4/75 .Trên đường tôi đi đến chổ làm việc hằng ngày đi ngang qua Nhà Vỉnh Biệt, chổ để xác các người lính chết trận chờ thân nhân ở xa tới nhận xác mang đi an táng . Tôi để ý thấy một quan tài phủ lá quốc kỳ VN , một mình quạnh quẻ chưa có thân nhân đến nhận, vì lúc đó tình hình căng thẳng, đường xá cầu cống bị ngăn trở . Tò mò tôi vào hỏi thăm mới biết được người nằm trong quan tài phủ lá quốc kỳ là Cố trung úy Trương duy Sơn, đại đội trưởng đại đội 3, TÐ 488 . Tiểu đoàn của Sơn trách nhiệm áng ngử vòng đai của thị xả . Ðại đội trưởng Trương duy Sơn đả chỉ huy đại đội chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và đả hy sinh trong giờ phút cuối cùng của cuộc chiến, ngày 28/4/75 .
Một nén hương cho bạn Trương duy Sơn . Trong giờ phút loạn lạc, người đi kẻ ở, cầu mong hương hồn của bạn được vào cỏi bình yên . Ở nơi đó …có lẻ bạn sẻ gặp lại Tô khánh Ðức, Nguyển văn Mảnh và Từ Lam Sơn .
Monday, October 22, 2007
Tình Tỵ Nạn
Minh Vủ K10B/72 Đồng Đế
(trích từ Ðảo tị nạn của tác giả)
Từ vài bửa trước khi tôi lên đưòng đi định cư, hôm nào mắt của Hạnh củng đỏ hoe, tôi nhìn thấy mà xốn xa trong lòng . Hạnh ít cười, ít nói ...Tôi cố gợi chuyện cho Hạnh vui vẻ, để làm vơi bớt nổi buồn chất ngất của đôi lứa sắp đến cái cảnh người đi kẻ ở,
“Vần trăng ai sẻ làm đôi,
Nửa soi gối chiếc, nửa soi dặm trường ..!”
Ai đả từng yêu, đả yêu tha thiết người mình yêu, mà phải gặp cái hoàn cảnh chẳng đặng đừng, khắc nghiệt phải xa lìa người yêu, đi đến một phương trời nào đó …,mới hiểu được tâm tâm trạng khổ đau, rai rức của tôi và Hạnh lúc nầy . Có bao nhiêu giấy mực củng không diển tả được hết những niềm đau vô tận …
Tôi sửa chửa lại những chổ rách của miếng vải nylon che cái nhà tắm dả chiến dựng ở gốc hè nhà phía sau barack. Tôi đấp vá lại hồ nước mưa làm bằng những cọc cây, lót miếng nylon bên trong để giử nước …,để khi tôi đi rồi, Hạnh sẻ còn dùng thêm được một thời gian nửa, của những ngày …còn một mình ở lại chốn nầy. Tôi bùi ngùi sắp xếp lại những vật dụng cần thiết, tập trung vào cái góc nhỏ của barack, để tránh thất lạc, vì khi chỉ có một mình Hạnh ở đây, biết đâu chả có người …cầm nhầm, mượn sài dùm.
Mổi một cái nồi, cái chén ăn cơm, từng chiếc đủa, chiếc muổng tôi cầm, là muôn vàng những kỷ niệm thiết tha của suốt chuổi ngày thương yêu của hai đứa .Tay tôi run nhẹ đặt từng vật quí giá vào chiếc thùng giấy carton tôi xin được ở tiệm bán tạp hóa của người Indo bản xứ .. .Rồi cái lon tròn bằng thiết, có miệng đường kính cở tô lớn dùng để đựng gạo được cấp phát hằng ngày, chai xì dầu đả cạn, chỉ còn dùng được chừng ba hôm nửa …Tôi nhìn sang đống chăn mền …,chiếc gối tạm do tôi dùng một bao cát lượm được giặt sạch và Hạnh dồn quần áo vào để thay thế bông gòn …; những vật vô tri giác đả ấp ủ cho tôi được ấm áp và vô vàng hạnh phúc trong cảnh đời tị nạn trên một phần chiếc sạp gổ của barack, bên người tôi yêu, nàng chỉ biết thương yêu tôi bằng một tình yêu chân thành của người con gái …,nàng không đòi hỏi gì ở tôi, không nhẩn hột xoàn, không nhẩn vàng mà củng không …nhẩn cỏ .
Lòng tôi se thắc …,tôi nghe tiếng đập mạnh của từng mạch máu ở hai bên thái dương của mình …và mọi vật trước mắt tôi như lung linh, nhạt nhòa …
Trại tị nạn Galang đầu tháng 12/79
…Vẩn là cánh chim bay,
Anh còn đi, đi mải …
Biết đến phương nào đây?
Nhớ hoài đôi mắt ngây
Lưu luyến buổi chia tay
Anh đi về phương ấy,
Lòng gởi lại phương nầy …
Tôi chưa đả ngồi trên thuyền ra cửa biển Galang, mà sao …nghe như có sóng dồn dập quyện ở trong lòng mình …, khiến tôi chao đảo . Vần dương đâu đả xế bóng, nhưng …sao trong đôi mắt của Hạnh lại nhuốm màu hoàng hôn và hơi sương chiều lóng lánh .. .
Tôi ôm chặt Hạnh vào lòng, bồi hồi theo từng lay động của thân thể nàng, theo từng tiếng khóc nức nở …Tôi hôn lên đôi mắt đẩm lệ của Hạnh, hương vị mằm mặn của những giọt nước mắt ân tình đả làm tê dại đầu lưởi của tôi và đả chạy dài qua các hang cùng ngỏ hẹp khắp cơ thể tôi …
Hạnh nghẹn ngào, cố nói lên thành lời,
-Rồi …đến bao giờ …mình mới gặp lại nhau hả anh?
Tôi không trả lời nàng .., tâm tư của tôi rối như tơ vò ..
Hạnh tiếp lời,
-Em ..em ..,lo sợ vẩn vơ …
-Ðừng nghỉ ngợi ..vẩn vơ nửa nghen em, anh sẻ cố gắng
tìm mọi cách để mình sớm được đoàn tụ.Tôi trấn an nàng.
Hạnh nghẹn ngào,
-Anh ơi, anh đi rồi ..em cảm thấy cô đơn quá .., rồi tuần
nửa Dung và Hải củng lên đường sang Úc, còn lại một
mình em ...,nhưng em sẻ cố gắng đợi chờ để được sang
Mỷ .Anh đi nhớ giử gìn sức khỏe.., ra bến tàu có lạnh, anh nhớ mặc thêm cái
nửa cho ấm nghe anh ..
Niềm mong ước, chờ đợi và hy vọng của những người vượt biên đang ở trại tị nạn là chóng đến ngày rời trại đi định cư ở quốc gia thứ ba .Hôm nay có hàng trăm con người đang vui mừng, hăng hái dục giả nhau ra bến tàu rời đảo Galang . Riêng tôi thì ngược lại , tôi có cảm tưởng mình như tên tử tù đang trên đường đi đến cái giá treo cổ . Tôi cố lê từng bước chân nặng ngàn cân đi đến sợi dây thòng lọng để kết liểu cuộc đời mình!
“Tôi đi một nửa hồn tôi mất !
Một nửa hồn kia củng …mất luôn.”
Hạnh không theo tiển chân tôi ra tận bến tàu, nàng sợ không chịu đựng nổi cái cảnh nhìn con thuyền chở tôi từ từ xa bến, nên ở lại barack . Dung củng ở bên cạnh của Hạnh để vổ về, an ủi . Chỉ có Hải theo tiển chân tôi và Tâm.
Chiếc thuyền nhỏ của người bản xứ chở 50 dân tị nạn nổ máy rời trại tị nạn Galang, trên thuyền chở theo 48 người, vừa cụ ông, cụ bà, đàn ông, đàn bà, thanh niên thiếu nử và con nít ,mặt lộ vẻ hân hoan vẩy tay chào nhóm dân tị nạn đang đứng trên bờ tiển bạn. Một người trầm ngâm không nói, vì ...có lẻ …xúc động sau khi được xem đoạn phim “Biệt ly” do đôi nam nử tài tử đang ăn khách Ðoan Hạnh-Minh Vủ thủ diển . Tài tử chánh thì .. đang ngồi một đống, như cái xác không hồn, đang chòng chành, lắc lư từng cơn, vì bị ngọn sóng dâng cao đến mức báo động đang vổ dồn dập trong lòng, cùng sóng ngoài của biển …
Thuyền đang chở cái thân xác nầy của tôi rời trại tị nạn đi định cư, nhưng đả bỏ hồn tôi ở lại cầu tàu trại tị nạn Galang…
Tôi đang trên đường chạy ù trở lại trại .Tôi hối hả đi tìm lại cái barack thân thương ..,tôi thấy Hạnh đang ngồi một mình, dựa lưng vào vách… nước mắt lưng tròng, tay ôm ghì chặt chiếc gối làm bằng bao cát trong nổi hiu quạnh …và cô đơn vô tận …
4. Trại chuyển tiếp Tangjung Pinang
Tanjung Pinang, nơi đổ bến của những chiếc đò đưa dân tị nạn từ Trại tị nạn Galang sang, sau khi hội đủ điều kiện và được quốc gia thứ ba chấp thuận cho định cư . Ðây là trại chuyển tiếp để khám sức khỏe, sau đó người định cư sẻ được đưa đến khu tị nạn tại Singapore để chờ chuyến bay .
Thành phố nằm trên một hải đảo không lớn lắm, sạch sẻ, khang trang và kiến trúc trông đẹp mắt, không tân kỳ, nhưng củng không lổi thời . Phố xá tấp nập những cửa hàng buôn bán, quán ăn, rạp ciné, khách sạn .Có phi trường cho loại phi cơ cánh quạt đáp, có bến cảng rộng đón tàu bè tới lui . Nếu đem so sánh với những thành phố ở Việt nam mà tôi đả có dịp đi qua , Tanjung Pinang có lẻ hơn thành phố Cần Thơ về cách tổ chức và dáng vẻ bên ngoài .
Tàu chở dân tị nạn đến Tanjung Pinang trời đả xế chiều. Chúng tôi tập trung ở cầu tàu, kẻ đứng, người ngồi, chờ xe đến rước đi về trại chuyển tiếp …
Ðoàn xe đi xuyên qua phố phường một lúc thì rẻ vào con lộ của một làng quê .Dân chúng địa phương đứng nhìn ở hai bên bờ đường và từ các cửa sổ nhà to, nhà nhỏ, sơn đủ màu sắc, thoạt nhìn tưởng như là đang đi trên những con đường làng bên Việt nam .
Xe dừng lại, mọi người lại một lần nửa đứng xếp hàng chờ nhân viên có trách nhiệm hướng dẩn đi đến chổ tạm trú . Trời đả nhá nhem tối . Ðông người đang chen chúc nhau ở nơi một khu nhà tập thể rộng, không có dừng vách chung quanh, như cái hội trường. Người đến trước, kẻ tới sau, cười nói ồn ào . Ðầu nầy Khánh Ly đang cất cao giọng hát trấn áp Chế Linh đang thả những tình khúc buồn vời vợi …, đầu kia, lẩn trong đám khói mờ mịt những bếp lửa cơm chiều tạm thời được kê bằng ba cục gạch, đốt bởi mọi thứ vật liệu có được .
Cơn mưa bắt đầu nhỏ hột, đám người mới đến đứng xếp hàng được di tản vào trong nhà tập thể . Ðứng sát ở mái hiên nhà, tôi nhìn ra bầu trời màu đen xám . Ðóm sáng từ những cây đèn cầy rải rác bắt đầu mổi lúc một nhiều . Tôi đang đứng giửa cái bóng tối bên ngoài, thỉnh thoảng tạt vào mặt tôi những giọt nước mưa lạnh ngắt …và khung cảnh lờ mờ đầy đủ mọi âm thanh, mùi vị ở bên trong .
Cả ngày hôm nay, tôi không cảm thấy đói, củng không thấy khát nước . Không biết Tâm đả đói bụng chưa? mà không nghe thấy nó hỏi tới cơm …, nó củng đứng lặng như tôi .., không nói một lời nào .
Người phụ trách hướng dẩn chúng tôi vào một chổ ở giửa và gần cuối phòng ở tập thể, nơi đây có sẳn một dảy giường chồng hai tầng bằng gổ, đả củ kỉ . Tôi leo lên tầng trên, Tâm tầng dưới . Tôi ngả lưng và thẳng cẳng ra một cách mệt mỏi, uể oải, không để ý xem Tâm nó làm gì …Một lúc, tôi cảm thấy có cảm giác ngứa ngáy khó chịu ở sau lưng ., tôi ngồi dậy lấy tay cào cào vài cái cho đả ngứa , tôi nhìn thấy tay tôi có dính chút máu .., tôi vội vàng cởi áo ra xem, thì thấy xác của hai con rệp to gần bằng nửa con ruồi đen . Tôi không nằm nửa, nhảy xuống giường rủ Tâm đi tìm thức ăn và nước uống . Ðược cấp phát cho vài gói mì ăn liền, hai đứa đi tìm xin nước xôi, bỏ mì vào ăn ngốn ngáo .
Tôi nửa nằm, nửa ngồi ở vị thế tựa lưng vào thanh giường để đề phòng .. rệp cắn và chập chờn đi vào giấc ngủ . Tôi mơ, thấy mình đang còn ở trại tị nạn Galang, đang chung tay sách thùng nước với Hạnh từ suối về lại barack, hai đứa vừa đi, thỉnh thoảng vừa nhìn nhau nhoẻn miệng cười …
Buổi sáng ở trại chuyển tiếp củng ồn ào không thua gì buổi tối . Tờ mờ sáng đả nghe tiếng người gọi nhau ơi ới, rồi củng khói lửa mịt mùng …, đủ mùi quấn quít …và các ca sỉ, sau một đêm ngủ lấy sức, bắt đầu thi thố tài năng …Sáng nay, tôi lại nghe có tiếng của một vài nghệ sỉ cải lương Tấn Tài, Lệ Thủy nhập cuộc. ...
Có xe đến chở những người mới đến đi khám sức khỏe và chích
ngừa . Khu bệnh viện khang trang nằm trên một ngọn đồi thấp, cách Trại khoảng một giờ đi xe, nơi đây có lẻ dành riêng cho dân tị nạn, tôi không thấy bênh nhân người bản xứ nào .
Sau khi được khám tổng quát, kế đến chụp hình Phổi (X-ray), thử máu, thử nước tiểu, rồi được xe đưa trở về trại nằm chờ kết quả hai hôm. Tôi với Tâm may mắn hơn một số gia đình có người bị nám phổi, hay phát hiện trong máu bị nhiểm trùng, bị giử lại, chờ chửa trị.., trông những gương mặt thảm sầu của họ mà tôi thấy tội nghiệp !
Tôi củng đang mắc chứng bệnh hiểm nghèo mà họ không tìm ra …,bệnh “Yêu” .Yêu mà phải bị xa người yêu, cho nên bệnh biến chứng sang “Tê bình phương”(tương tư) . Tôi mong sao cho họ khám phá ra, để trả tôi về lại trại tị nạn Galang, vì hiện nay, trên thế giới nầy ..,chỉ ở đảo Galang mới có được viên thuốc tên “Kiss” chánh hiệu Anh-Mỷ, mới chửa được bệnh của tôi .
Bốn ngày ở trại chuyển tiếp Tanjung Pinang .Sau khi hoàn tất mọi thủ tục, chúng tôi được cấp phát cho mổi đầu người một chiếc sách tay nhỏ, gọn gàng, màu xanh da trời, có in chử Care màu trắng . Hành trang thiên lý dồn hết vào đó để chuẩn bị đi đến thiên đàng hạ giới, vùng đất hứa mơ ước.., đất nước tự do Hoa kỳ .
Chúng tôi lại được những chiếc thuyền nhỏ cuả dân bản xứ chở mổi ghe 50 người rời bến Tanjung Pinang trực chỉ Singapore . Mọi người được cấp phát mang theo khẩu phần ăn trong ngày, gồm có 2 khúc cá biển chiên hình vuông vức, mổi cạnh chừng bốn ngón tay, 2 chén cơm, một ít rau cải luột và 1 cái bánh ngọt, cộng thêm một bình nhựa plastic đựng nước uống .
Thuyền đi qua các đảo lớn, nhỏ .Xứ Indonesia toàn là những quần đảo lớn, nhỏ nằm trải dài hướng Ðông-Nam của Châu Á .Có lần, tôi hỏi một người cảnh sát Indo tổng cộng có bao nhiêu hòn đảo lớn nhỏ của xứ nầy, ông ta lắc đầu cười ..chịu thua và nói chính phủ nước ông chỉ kiểm soát những đảo có diện tích hơi lớn một chút, từ 10 km vuông trở lên, chớ không kiểm soát nổi tất cả những hoang đảo tọa lạc ở nhiều nơi .
Xế trưa, thuyền vượt ra khỏi những khúc quẹo quanh co của vùng đảo nhỏ rải rác trên đường từ Tanjung Pinang đến Singapore, rồi ra đến một khoảng nước rộng mênh mông . Xa xa, tôi nhìn thấy lố nhố những tòa nhà trọc trời và thấp thoáng những chiếc tàu có trọng tải lớn . Thuyền càng tới gần bờ, thành phố Singapore càng nổi bậc giửa khung cảnh trời nước bao la, nhìn từ hướng biển vào đất liền , một kỳ công nhân tạo thật là tuyệt đẹp . Mọi người trên thuyền say sưa ngắm nhìn …cho đến lúc thuyền cặp bến .
5. Trại chuyển tiếp Singapore
Chiếc xe bus sơn màu xanh, viền trắng đả đậu sẳn từ bao giờ khi chúng tôi rời chiếc thuyền đưa đò, đặt chân lên mặt đất của thành phố Singapore để chở chúng tôi về chổ trú ngụ, trại tị nạn, trại chuyển tiếp Singapore nằm ở cuối con phố có tên Chamber one.
Thành phố Singapore đẹp và sạch sẻ, trang trí thật tân kỳ .Từ trạm xe bus cho tới những cột đèn đều được sơn phết những màu sắc thắm tươi .Nhân viên cảnh sát đứng dọc theo hai bên bờ đại lộ để giử gìn an ninh trật tự cứ cách khoảng vài trăm mét .Xe hơi di chuyển không dập dìu, tấp nập, không khí có vẻ yên tỉnh, cây cỏ xanh rì chen lẩn hoa lá đủ màu.
Mấy năm rồi tôi đi lính, ở rừng, ở bụi ; rồi sau ngày cộng sản tấn chiếm miền Nam, tôi đi tù củng ở bụi, ở rừng ..; rồi khi được ra tù, gia đình phải dọn về quê, vùng kinh tế mới ; rồi đi vượt biên, sống lây lất từ đảo nầy sang đảo khác của xứ Indo . Ðây là thành phố thứ nhì mà tôi đặt chân đến sau Tanjung Pinang .Thấy Tanjung Pinang đả là mát mắt rồi, giờ được thấy thành phố Singapore còn tươi thắm gắp trăm lần Tanjung Pinang .. .
Mọi người chắc đả được no tròn con mắt .Chưa tới Mỷ mà đả khoan khoái trong lòng …Không ai nói ra, nhưng tôi đoán những người đang ngồi cùng với tôi trên xe bus chắc là đang bắt đầu …thả hồn mơ mộng hướng về cái tương lai gần sắp đến , khi bước chân lên phi cơ cất cánh bay vút lên trời xanh …,về miền đất mong đợi ...và chắc củng.. hài lòng mình đả không uổng công đem thân ra thử thách cùng phong ba sóng dử, để có được cái giờ phút thỏa nguyện nầy .
Ðoàn xe quẹo vào trại tị nạn Singapore, sau khi leo vượt qua con dốc dài của ngọn đồi, dừng lại trước cổng con đường trán nhựa, hai bên có cây kiểng, hoa lá khoe sắc .Con đường dẩn đến những ngôi nhà riêng rẻ, cất theo kiếu biệt thự thời trước . Tôi thấy có một số người Việt tị nạn đến trước đang đứng bên bờ tường hoa lá gần cổng ra vào, đang chỉ chỏ ra hướng chúng tôi .
Ðám người mới đến được hướng dẩn vào ở khu nhà gạch, mát mẻ, nền lát gạch bông và được chỉ định chổ ở . Tôi với Tâm được chỉ định ở nơi căn nhà bìa của dảy nhà nằm trên đồi, nhìn xuống đại lộ . Mổi ngày tại đây , chúng tôi được cấp phát 4$ tiền Singapore (# 1.2$ US dollars) để mua thực phẩm ăn, nước uống thì do trại cung cấp .Trại không có đủ giường cho dân tị nạn ngủ, ai đến trước thì có được, chúng tôi đến sau phải trải tấm vải lót nằm tạm dưới nền gạch bông .., được như vậy củng cảm thấy hạnh phúc lắm rồi.
Khí hậu ở thành phố Singapore mát mẻ, không quá nóng , mà củng không quá lạnh, vào khoảng 20 độ C.
Sau khi ổn định chổ nằm, cất để hành trang, tôi với Tâm đi tìm chổ tắm . Ðả lâu lắm rồi mới được tắm nước fountain .Mát mẻ, thỏa mái, sạch sẻ thân thể …, rồi tôi bắt đầu thả bộ đi dọc theo con đường cho đến cuối dảy nhà của “Xóm tị nạn” ,khu nhà nằm trên đồi cao, đứng từ đây nhìn ra mọi hướng, có thể thấy thành phố ở xa xa, thấp thoáng những tòa nhà trọc trời cao thấp…và xa hơn chút nửa là biên giới Mả Lai-Singapore …
Những người đả ở đây trước, chỉ đường cho chúng tôi đi đến các supermarket gần chổ ở để mua thực phẩm . Chúng tôi đi từng nhóm năm, bảy người đến chợ siêu thị, ngắm nhìn mà không chán mắt.., đúng là dân nhà quê mới ra tỉnh …Mấy tay có máu “men” thì tìm mua beer, mua đầu heo, lòng heo về làm một bửa cho đả thèm . Tôi với Tâm không phải dân nhậu, nên mua thực phẩm căn bản để độ nhật cho qua ngày .
Chiều lại, cơm nước xong , hai anh em ra hè nhà ngồi . Từ trên đồi cao ngắm nhìn xe cộ đang đi qua lại trên đại lộ có 4 lằn xe đi có đèn sáng choang ...; Từ ngày “bỏ phố lên rừng”, giả từ Sàigòn thân yêu, nay tôi mới có dịp thấy lại được khung cảnh nầy .
Tôi đả qua được một giai đoạn thăng trầm trên bước đường tị nạn, giờ chỉ còn ngồi chờ thêm một chuyến đi cuối nửa ..là vượt qua cái biển Thái bình Dương bao la, không phải bằng chiếc ghe “càdôm” nửa, mà bằng phi cơ phản lực khổng lồ hiện đại, có đầy đủ tiện nghi …”tam khoái” .Tâm giờ mới thấy nó hơi tươi sắc mặt, vì con đường sáng đả hiện ra trước mắt .Bấy lâu nay Tâm ủ rủ, lo âu cho cái số phận làm thân “chùm gởi”, phải trao nhầm cho tôi, một kẻ mà ..bị “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”, trên lưng lúc nào củng mang nặng cả khối tình không sao vứt bỏ .Tâm đả hồi hộp trong niềm vui, bồi hồi trong niềm đau theo từng những cơn lốc xoáy của đại dương tình ái trong tôi .. .;có lúc, tuy không nói ra, nhưng tôi củng đoán biết được Tâm lo lắng, ưu tư những khi nhìn thấy tôi đang lâm vào mê hồn trận .., định hủy bỏ chuyến đi Mỷ để “xuất giá tùng phụ” cho trọn nghỉa tào khang . Nó và tôi cùng đứng chung hồ sơ đi tị nạn ..., thì chắc chắn con đường đến Mỷ quốc của nó sẻ còn mơ màng và còn nhiều chông gai nửa .
Bình minh ở tận chân trời,
Anh ngồi đếm giọt sương rơi nơi nầy
Gió Thu thổi lạnh quanh đây ..
Làm sao cho ấm lòng nầy…hởi em!
Buổi sáng, tôi thức dậy sớm, Tâm còn ngủ say . Tôi một mình đi bách bộ dọc theo con đường của khu nhà tị nạn ..và dừng lại ngồi nơi triền dốc ở cuối đường .
Mặt trời ửng đỏ, phân nửa vòng tròn nhô lên, phân nửa còn lại bị che khuất bởi dảy núi mờ xa . Ước gì ..,có được Hạnh ngồi bên cạnh, để hai đứa cùng ngắm mặt trời mọc như lúc đi chung nhau trên con “thuyền tình” Lislie từ đảo Kuku đến đảo Galang…Nhớ Hạnh kinh khủng…,không biết giờ nầy Hạnh đang làm gì? Trời còn sớm, chắc nàng đang còn say giấc điệp, hay là vì nhớ tôi không ngủ được, nàng củng đả thức sớm và một mình ngồi cô đơn nhìn mặt trời mọc như tôi? Mái tóc và đôi vai mảnh khảnh của nàng có đang bị phủ màn sương lạnh? Nàng có mặc áo ấm không nhỉ? Tôi nhớ nàng còn một chiếc áo khoát, mà nàng đả khoe với tôi, mang theo lúc đi vượt biên và tôi đả nhiều lần triều mến, vuốt ve nó cùng với tấm thân căng đầy sức sống của nàng . Tôi quen cái áo đến nổi có những buổi sáng tôi đi tìm nàng, nhìn từ xa là tôi đả nhận ngay, giửa đám đông người qua lại . ..
Tôi chạy một mạch về chổ đang ở, lấy vội giấy bút ra viết thư báo tin cho Hạnh biết diển tiến của mấy ngày hôm nay .., chắc Hạnh trông tin của tôi lắm …
Tôi gởi lá thư ngay buổi sáng hôm đó …và bốn hôm sau, tôi nhận được thư hồi âm của Hạnh,
“Anh yêu của em,
Ðược thư của anh em mừng quá, chưa mở ra xem mà nước
mắt của em đả tuôn trào …Mấy người trong barack tưởng
em có chuyện gì, nên hỏi han vồn vả, em sợ họ trêu chọc em
nửa, nên tìm đến một barack khác, người đả đi định cư bỏ
trống và ngồi vào một góc phòng đọc thư của anh . Ðọc đến
đâu .., em lại khóc đến đó . Anh thương em và lo lắng cho
em quá .Em quả có phước lắm, mới gặp được anh .
Anh đi rồi, vài ngày sau Dung và Hải củng lên
đường sang Úc, còn một mình em ở lại . Em đả dời chổ
ngủ của mình sát vào vách, để nhường bớt chổ cho một gia
đình vượt biên mới đến . .
Mấy ngày sau khi anh đi rồi, em buồn thơ thẩn .Ngày
nào, giờ phút nào củng nhớ anh .Em cố tìm những món đồ
vật của anh bỏ lại, để nhìn nó, để nhớ anh . Tối ngủ, em ôm
chiếc gối làm bằng bao cát của anh vào lòng mà tưởng như
có anh đang nằm bên cạnh em . Em đả quen hơi của anh
rồi …,em rất yếu đuối khi bên anh, anh đả săn sóc và lo
lắng hết cả mọi thứ cho em . Vắng anh, em phải tự cố gắng
làm lấy một mình . Tình yêu của anh cho em, đả giúp cho
em có thêm nghị lực để phấn đấu trong những ngày em xa
anh, để chúng mình chờ ngày đoàn tụ .Anh rán giử gìn sức
khỏe nghe anh, lở bệnh rồi không có em bên cạnh, không ai
săn sóc cho anh .
Anh Ðạt, bạn của anh có ghé dây thăm em .Anh ấy
hỏi em có cần giúp đở gì, thì cho anh biết . Em cám ơn anh
và nói khi cần sẻ cho anh biết sau .
Em nhớ anh lắm, nhưng không biết làm sao hơn!
Em trông chờ đơn bảo lảnh của anh gởi sang để
gặp Phái Ðoàn Mỷ xin phỏng vấn . Chừng nào anh đến Mỷ
nhớ biên thư liền cho em, em rất mong tin anh .
Yêu anh nhiều, hôn anh ngàn lần.
Ðoan Hạnh
Tôi đọc đi, đọc lại lá thư của Hạnh không nhớ mấy chục lần. Thương quá đi thôi người ở lại !
Ðợi và chờ…! Hạnh một thân một mình trong trại tị nạn, không tiền bạc, không thân nhân …, rồi sẻ còn chờ đợi cho đến bao giờ?
Tôi càng nghỉ đến Hạnh, càng hối hận . Tôi đả quyết định đúng? hay sai lầm ? khi ra đi bỏ lại người con gái yếu đuối vì yêu tôi mà phải hy sinh chấp nhận thực cảnh để mong có được một ngày mai chung sống với người mình thương . Hạnh đả dám liều lỉnh làm một việc thử thách đó mà không sợ, không lo những gì sẻ xẩy đến cho mình..,thân gái dậm trường .Còn tôi, tôi ích kỷ, tôi chỉ nghỉ cho cá nhân tôi, cho gia đình của tôi trong tương lai . Tôi thương gia đình mình, đầu óc tôi lúc nào củng bị ám ảnh hình ảnh một đời lận đận vất vả lầm than của cha mẹ, của anh chị, mà nhất là sau khi tôi đi học tập cải tạo trở về, gia đình tôi đả không còn ở thành phố nửa, phải dọn về quê, sống chung trong một mái lá trống trước dột sau nơi một vùng quê xa xôi ở gần tận cùng của đất nước. Cha mẹ và các anh chị em tôi đả dành dụm, chắt chiu, đả nhín bớt miếng ăn để có đủ tiền cho tôi với em Tâm đi vượt biên, đánh đổi cả sinh mạng đi tìm con đường tương lai sáng sủa, hơn là phải khổ nhục suốt đời sống dưới chế độ bần cùng, tối đen như mực . Tôi chưa giúp đở, chưa trả được cái công ơn đó cho gia đình …, tôi mới vừa ra khỏi xứ sở, chưa tới quốc gia định cư, mới nửa đường thiên lý, tôi đả vướng phải sợi tóc quấn chặt lấy chân tôi .Chắc chắn là gia đình sẻ không tha cho tôi, nhưng .., đâu có ai thấu hiểu cho cái hoàn cảnh khốn đốn của tôi trên bước đường tị nạn !
Hạnh củng vậy, nàng củng đang gặp những “ngổn ngang canh cánh bên lòng”, Cha và người anh Cả đang còn sống trong lao tù cộng sản , ra đi cùng với người chị và đứa em trai, bỏ lại quê nhà người Mẹ già nay ốm mai đau và đứa em gái còn trong tuổi vị thành niên không ai chăm sóc. Hạnh củng là một con người, củng như những con người khác, lìa bỏ xứ sở, gia đình ra đi tìm tự do, củng với một uớc vọng được làm một cái gì đó nhỏ nhoi, hầu xoa dịu, giúp đở phần nào những lần than cơ cực của những người thân còn ở lại quê hương đang mỏi mắt trông chờ .
Có cùng cảnh ngộ, mới thấy được Hạnh đả hy sinh lớn lao cho tôi, một sự hy sinh vô bờ bến .Người con gái yếu đuối đả dám làm được những chuyện .., mà như tôi, thân nam nhi, tôi đả từng đi lính, đả từng ra chiến trường xông pha trước lằn tên mủi đạn quân thù …, nhưng tôi lại không can đảm, tôi rút đầu, rút cổ chịu thua .
Chuyến bay Boeing 747 chở theo gần 400 người tị nạn cất cánh rời phi cảng quốc tế Singapore vào lúc 5 giờ chiều một ngày của tháng 12, gần cuối năm 1979 .
Thành phố Singapore, với bến cảng rộng lớn, có tàu bè tấp nập ra vào ,từ từ nhỏ lại và xa dần, mất hút theo màu xanh đậm của biển . Nhìn dảy nước mênh mông ngút ngàn, lòng tôi bồi hồi nhớ lại chuyến hải hành vượt trùng dương trên chiếc ghe bé nhỏ như một hạt bụi giửa biển khơi ,mà sinh mạng của mình phó thác cho số mệnh của hôm nào .., còn đậm nét trong lòng tôi ..
Nắng dần tắt, khung cửa sổ của phi cơ củng dần đổi sang màu tối …Tôi suy nghỉ miên man, mường tượng đến một chân trời mới xa lạ mà đả từ lâu mong đợi sắp đến, cùng lúc tôi vương vấn khung cảnh trại tị nạn Galang, nơi có người thương đang mỏi mắt trông chờ...; Lòng tôi bồi hồi, băng khoăn với những nổi niềm riêng thôi thúc .. .
Phi cơ bay một khoảng lâu, tôi thấy chập chờn những chấm sáng hiện ra, mổi lúc một lớn và tỏa rực rở trong bóng tối như viên kim cương lấp lánh …
Sau gần 8 giờ bay về hướng Ðông-Bắc, phi cơ giảm cao độ ,đáp xuống phi trường quốc tế Tokyo-Nhật Bản lấy thêm nhiên liệu, rồi cất cánh trực chỉ bay đến Hoa Kỳ trong đêm tối . Tôi ngồi bìa kế bên cửa sổ, nhìn ra ngoài bầu trời màu đen thẳm như mực. Tôi kéo màn đóng cửa sổ lại và duổi chân ra cho thỏa mái . Tâm đang ngủ khò ở ghế bên cạnh, đầu ngả dựa vào vai tôi, tôi sửa mình lại cho ngay ngắn, cố không làm động mạnh, sợ đánh thức nó dậy .
Phi cơ bay vào vùng ánh sáng, nơi giao điểm giửa ngày và đêm .Tia nắng ửng lên bên cái màn che khung cửa sổ, tôi lại kéo màn cửa sổ lên, ánh sáng bừng dậy làm tôi chóa mắt . Phi cơ đang bình phi ở cao độ, êm ả như tôi đang ngồi ở một ghế đá công viên ngắm mây trời bảng lảng …Tôi nhìn ra ngoài, bầu trời xanh mênh mông, trong vắt, bên dưới tôi là dảy mây trắng dầy đặc che kín đến tận chân trời . ..
Hạnh ơi, giờ nầy em đang làm gì đó hả em? Anh đả giả từ trại tị nạn và đang lơ lửng bềnh bồng theo đám mây trôi .., một thoáng nửa đây phi cơ sẻ hạ cánh xuống phi trường trên đất Mỷ …Một cuộc đời mới đang chờ đón anh nơi xứ sở xa lạ, cách xứ mình đến nửa vòng trái đất, cách trại tị nạn Galang đến nửa vòng trái đất và… mình đả cách xa nhau đến nửa vòng trái đất rồi em ơi…!
Nhìn mây trắng bay, tôi chợt nhớ đến bài hát “Mây lang thang” của một tác giả tôi không nhớ tên, mà Hạnh thích ..và đả có đôi lần tôi hát cho nàng nghe …, tôi khẻ hát nho nhỏ, chỉ để một mình tôi nghe …
”Mây, sao còn bay mải không quay về đây..,
sao còn lơ lửng treo trên làng cây…,
hay là mây nhớ đến ai nào đây …
Mây, xin dừng chân đến với tôi một đêm …
xin đừng đi chốn môi hôn thật êm …
xin đừng theo gió bay lên trời cao …
xin đừng ân ái với muôn vì sao ..”.
Tôi giậc mình ..ngừng cơn mộng du khi cô tiếp viên hàng không lên tiếng hỏi order cho bửa ăn . Tôi lay Tâm thức dậy. Hai đứa nghe cô giới thiệu thực đơn có món “fried chicken” và “coke” nên gật đầu lia lịa . Cô mang đến cho tôi và Tâm mổi đứa một cái hộp giấy đựng “gà chiên” thơm lừng ; chưa mở hộp ra xem, mà tôi cảm thấy nước bọt cứ trào ra, phải ừng ực nuốt vào. Rồi mổi đứa được một ly plastic có đựng “coke”, với vài cục nước đá nổi lềnh bềnh trong ly …nhìn củng phát thèm …,rồi ..”món nào” của cô, tôi nhìn củng phát thèm ..!
Chúng tôi đáp tạ bằng lời “thankyou” .Chờ khi cô vừa khuất lưng, hai anh em mở hộp ra, ăn ngon lành . Vừa ăn, vừa uống coke thật là khoái khẩu làm sao ..,
Một giọng nói đàn ông phát ra từ phía sau lưng tôi ,
-Thiệt là không uổng công đi vượt biên …,chưa đến Mỷ
mà thấy đả rồi..,chừng tới Mỷ chắc là còn nhiều thứ đặc biệt hơn nửa hả...
Giọng người đàn bà đáp lại cộc lốc,
-Thôi …,im đi cha ..,tối ngày ..hể thấy ăn là tươm tướp…
Sau bửa ăn ngon miệng bởi những thực phẩm mà “lần đầu tiên trong đời” được biết đến, tôi thiu thỉu ngủ cho đến khi được nghe thông báo của phi hành đoàn cho hành khách biết phi cơ chuẩn bị hạ cánh .
Hết

